SINH TỬ TỊCH DIỆT

Kính thưa các bạn, tác giả Từ An là tác giả của 3 quyển sách MÙA XUÂN VĨNH CỬU, VỀ TÍNH CÁCH HƯ KHÔNG CỦA GIẤC MỘNG, VỀ SỰ YÊN LẶNG CỦA ĐỨC PHẬT ( 3 quyển sách này đã xuất bản ). Sau đây là một trong những quyển sách khác của ông:

SINH TỬ TỊCH DIỆT

Cái tôi là gì ? Là tục đế, thập nhị nhơn duyên, là người tự tác tự thọ, là ông diêm vương … ngày ba mươi tháng chạp! Nói tóm con người là 12 nhân duyên được đức Phật mô tả như là thân phận của chính con người do vô minh vì không biết vạn pháp duyên khởi không tính mà ra. Do đó đạo Phật là đạo mô tả thực tại tương đối của vũ trụ thân tâm và thực tại tuyệt đối bất khả tư nghì vì vượt qua mọi phạm trù thế gian và xuất thế gian. Phật là người chứng chân lý Tính Không Duyên Khởi (chân không diệu hữu) chứ chẳng phải là nhà khảo sát thực tại vũ trụ thân tâm và khi mô tả thực tại tuyệt đối là từ Tự chứng chớ không phải là lý thuyết thần bí, trừu tượng … Khi thực chứng Tứ đế, con người thoát ly sinh tử, khổ não, con người được Trí Tuệ chánh giác nhập Pháp giới nhất chân để tùy duyên hóa độ hữu tình, mọi hành tác thi vi như mặt trời tỏa ánh sáng tùy muôn loài lợi ích mà không có năng sở, không có kẻ cứu khổ và người được cứu khổ. Vì khổ rốt ráo “không”,,, Niết Bàn, Bát Nhã, Duy Thức, Pháp tính …

Nền Tảng của mọi sự mọi vật mọi tâm mọi lý là gì ? Nó chẳng phải sinh ra vạn pháp cũng chẳng phải từ đó vạn pháp quy về. Nó bao hàm, xuyên suốt, siêu việt vạn pháp. Như hư không của căn phòng là thắng duyên để vạn pháp duyên khởi mà ngay mỗi mỗi sự sự vật vật đều đầy đủ thanh tịnh, vô nhiễm, vô sinh bất diệt. Không đợi sinh mới gọi sinh mà ngay sinh là vô sinh và diệt cũng thế nên không từ đâu đến chẳng đi về đâu cả. Như điện ở khắp mọi nơi không tướng trạng tùy duyên mà nhà máy điện thu phát điện để biểu hiện thành tướng điện và diệu dụng vô cùng, thực tại của điện vô trụ vô tác vô sanh, tùy duyên mà thành diệu lực bất tận. Thể tướng và dụng tuy ba nhưng chỉ là một Thực tại Tính không duyên khởi vô đắc vô thất.

Bổn giác thì có thủy, giác viên giác tính giác nhưng nói cho cùng thì không có chủ khách, không có bản thể năng tri và hiện tượng sở tri. Vấn đề bản thể và hiện tượng tức Ngã và Pháp là do cái thấy nhị phân sai lầm. Vì vô minh tức là sự “muốn biết” về một cái gì đó nên tùy đó mà hình thành mọi dạng loại của tâm thức và cảnh giới, nhưng trong tự tính thanh tịnh “không có một vật” tức không mọi vọng tưởng vọng hành, vì Bổn giác như mặt trời chưa từng tha hóa, vong thân. Đáo cùng, Pháp giới tính (cũng là Duyên khởi không tính, vô ngã) không là gì cả mà là tất cả pháp. Cho nên Tùy Duyên cũng là Bất Biến, Tịch chiếu viên dung, chơn vọng vô ngại, ẩn hiển tương tức tương nhập, không có chỗ đến vì không từ đâu !

Trên đường Đạo có An-lạc có cấp độ, như sức trí giải cũng có cấp độ nhưng vẫn là những hóa thành chẳng phải Bảo Sở. Chỗ cứu cánh một vật, một tâm đều vô sở đắc và ngay cả cứu cánh cũng vô sở đắc, vì xưa nay mọi sự mọi vật đều tự do tự tại không trở thành ràng buộc hay giải thoát chi cả, chỉ là một cái thấy vọng hay chơn mà có ra mọi phức thể. Tất cả các pháp dù là danh hay sắc dù là hữu vi hay vô vi đều là không tự tính, không chỗ có thể được. Nếu có chỗ nương dù là niết bàn hay trôi lăn trong sinh tử đều vì có sở đắc tức vọng thấy mà thôi. Vì “không tính duyên khởi” là tự tính của vạn pháp nên vạn pháp được vọng lập tùy tâm biến hiện chẳng phải thực có chẳng phải thực không, chẳng phải vô thần chẳng phải hữu thần hay phiếm thần, không phải nhân duyên không phải vô nhân hay tự nhiên hoặc có năng lực vô thượng vô thủy nào mà tất cả đều tương tác tương nhiếp tương quan lẫn nhau vô tận nên một là tất cả, tất cả là một, chưa từng thành Đạo cũng chẳng có Đạo nào để thành vì rốt ráo đầu cuối trên dưới đều là Đạo viên mãn toàn như rồi, không còn phải làm sao hay tại sao cả. Vì vô minh tức chẳng biết bản tính của vạn pháp nhất như toàn diện, chẳng thể thủ xả mà thành thủ xả, chẳng phải thời gian không gian ở cấp độ nào bất cứ mà chia xé thành các tầng trời của tâm thức vọng lượng, nên vật có vẻ sinh thành hoạt diệt, tâm có vẻ vơi đầy với lạc khổ hay vô ký … Thường cho rằng có một linh giác rỗng lặng sáng suốt gặp duyên liền ứng, hết duyên liền thôi vô nhiễm với mọi sự mọi vật, nhưng hiểu như vậy cũng chưa thấu đáo vì còn có một “bản thể” nào đó để quy chiếu. Sự thực thì khi ứng cũng như khi thôi đều chẳng từ đâu hay về đâu cả. Vạn pháp vô trụ, hằng chuyển, sinh không có đầu mối, diệt cũng chẳng chỗ trở về, rốt ráo không gốc rễ không cành nhánh, vậy mà mọi sự mọi vật phân minh mà không đối lập, xung chướng vì sinh tử tính không tức bất sinh bất tử tức duyên sinh duyên diệt không tự tánh, không thực thể. Trong sinh tử có cái không sinh không tử là vậy. Tức trong vô thường có cái chơn thường vì không tính duyên khởi vậy, chớ chẳng phải những đối lập tương khắc. Ngã, bất tịnh, khổ cũng như thế. Phật không nói hai lời, không ngụy biện, không ba phải, không nói cũng có cũng không … Đôi khi ngoại đạo cũng nói tương tợ như Phật, nhưng chân lý cứu cánh lại chẳng phải vì chỗ nội chứng sai khác rồi. Chư Phật chư Tổ có phương tiện thiện xảo, chỉ thẳng nguồn tâm vô trụ, trình ngay bổn tánh vô sanh, thuốc bịnh tuy nhiều. nhưng tùy căn cơ mà khai thị ngộ nhập chớ có tạp loạn mà lấy thuốc thành bịnh chẳng hay.

Tất cả triết học, tôn giáo đông tây kim có đều kẹt vào “căn nguyên” tức bản ngã phóng chiếu thành Thượng đế, Năng Lực Đầu Tiên, Bất Khả Tri v.v… Họ chẳng tự ngộ được cái vô căn để tức Duyên Khởi Tính Không Bất sinh bất diệt. Họ cho rằng hoặc Hữu Thể, hoặc Vô Thể làm nền tảng dù là Tâm hay vật. Do đó không có Tự do tự tại trong Đời Sống Muôn Màu Vô Tướng, và mọi sự đều bất toàn trong suy nghĩ, lời nói cũng như hành vi, nên họ tiếp tục kiếm tìm và chạy bắt bóng mình nghỉ chân trong chốc lát rồi lại lên đường cho đến khi trực ngộ rằng mình chẳng từ đâu chẳng đi về đâu cả vì tự tính không tính bất khả thuyết, bất khả phân ly. Học Đạo phải học từ mỗi con người, mỗi con người tự xem xét chính mình thì sẽ khám phá toàn thể pháp giới, pháp thân.

“Pháp” tức pháp thân, hay pháp tính là vũ trụ tâm linh hóa hiện thành pháp giới, tức Thực Tại Toàn Mãn hay chân lý viên dung tuyệt đối. Khi mà nguồn tâm chưa khởi thành ý niệm thì vạn pháp không có năng tri sở tri và pháp là chân như pháp giới. Lý đã khởi thì sự kèm theo do đó con đường đạo được thành lập muôn nẻo và vạn vật mọi thứ thành pháp pháp trong vị thể tổng quan của nó. Nhưng nếu ngộ được “pháp trụ pháp vị thế gian pháp thường trụ” này thì Pháp là Ngã trong “Duy ngã độc tôn” mà đức Phật tuyên nói. Cái Ngã hay cái Pháp đó chưa từng sinh chưa từng diệt cũng chẳng đối lập, thủ xả bất cứ ngã hay pháp tương đối nào dù là hạt bụi, cái cây, con kiến, trời, người, thần, quỷ … Nói cho cùng ngoại đạo tà ma vô minh lục đạo đều không lìa Pháp tính duyên khởi mà thi thiết. Cho nên rốt ráo chúng sinh ở nơi Niết Bàn Diệu Tâm Bát Nhã Ba La Mật mà chẳng hay chẳng biết lại nhận lầm con cá lẫn con tôm sinh sinh hóa hóa … Cái chơn ngã hay Pháp tính chẳng phải là trung tâm quy chiếu mà từ đó mọi sự khởi đi và trở về mà là một cái Tâm linh toàn diện sống động, Thực tại chơn như vốn lặng lẽ chiếu soi không có tự tính, không có trung tâm nên nó ở khắp mọi nơi nhưng không ở đâu cả, nếu có các biểu hiện được nắm bắt bởi cảm giác tri giác nhận thức cùng các trạng thái của tâm thì đó là những đạo lộ sinh diệt tương đối huyễn hóa của vọng thức vọng tình, nên có vẻ giải thoát hay ràng buộc chớ ngay nơi chơn pháp “không” và do đó rất diệu mầu chẳng ngại chơn vọng, phàm thánh, mê ngộ, tâm cảnh … Chư Phật tùy theo cơ tâm uế tịnh sai khác mà nói ngã hay vô ngã để đối trị chấp trước phân biệt chớ Thực tại tính không duyên khởi vô ngã vô pháp một cách bất biến tùy duyên. Cái Tuyệt đối thì không có hai, không phải một, không phải nhiều, không phải không, chính cái “không đáy” bất nhị đó tùy duyên vận dụng diệu hữu mà có pháp hay có phi pháp nhưng vẫn bất biến vô thực vô hư. Như toàn là Nước (pháp giới tính) vì mê lầm (cái động của nước) bèn nhận ảnh tượng của nước mà cho rằng có sóng mòi rồi lại cho rằng sóng từ nước sanh rồi lại về với nước. Thực ra sóng tức là nước sinh động nhiệm mầu tự tại tịch diệt viên mãn trong từng sợi lông cho đến vũ trụ vô biên, thập phương tam thế Phật pháp tăng thường trụ vì duyên khởi nên chẳng phải đoạn, vì tính không nên chẳng phải thường vậy. Siêu việt đoạn thường vì thực chứng Tính Không Duyên Khởi vô tướng vô sanh ! Mỗi mỗi sự sự vật vật gồm thâu muôn pháp, khắp cả muôn pháp gồm thâu mười đạo lộ, mỗi đạo lộ gồm thâu pháp giới tính. Cho nên pháp giới tính trùm khắp pháp giới và lấy pháp giới vô lượng vô biên làm thân nên cũng gọi là pháp thân tự tánh Niết Bàn không đến không đi, không thành không hoại, không uế không tịnh, Thường Tịch Quang Minh Phổ Chiếu xuất nhập nhân quả tánh tướng thể dụng phi tức thị, thị tức phi bất khả tư nghị vậy. Muôn kinh vạn luận chỉ là khai thị vạn pháp bổn lai vô sanh (không sinh diệt) vô trước (không chấp thủ dính mắc) vô trược (không cấu nhiễm) vô trụ (duyên khởi tính không) chỉ cần ông trực ngộ chứng nhập như thế chớ chẳng làm hay chẳng không làm chi cả ! Chứng ngộ pháp giới tính duyên khởi vô ngã tuyệt đối rồi thì thần thông tam muội vô lượng không thể nghĩ bàn vì không tướng tức nhất thiết tướng, nhất thiết tướng tức nhất tướng, chẳng đây chẳng kia chẳng sau chẳng trước, chỉ là một vị mà thôi.

Như cơn say chẳng hạn, người có trí quán sát liền biết, cơn say chẳng tự sanh, chẳng tha sanh, chẳng cộng sanh, chẳng vô nhân sanh. Do đó ngộ vô sanh vậy. Và các pháp nội tâm ngoại cảnh, sinh tử niết bàn cũng không tính duyên khởi như thế, nên chẳng thể nói bản thể chẳng thể nói hiện tượng, vì tất cả pháp vô sanh vô tướng là thực tướng của vạn pháp vậy. Duyên Khởi Tính Không nên gọi là vô trụ niết bàn, Tự tánh thanh tịnh tâm tùy duyên biến hiện không phải có, không phải không, không phải vừa có không phải vừa không, không phái phi có phi không … Tùy duyên mà bất biến, bất biến tức tùy duyên tức Thổ Dụng bất nhị bất khứ bất lai.

Cái sự vụ “thủng đáy” này giống như một người cố công tìm kiếm chân lý (bờ bên kia) mà dùi cho thủng bức màn vô minh tuy mỏng mà khó dứt đó, đến khi thủng màn rồi thì chợt ngộ bờ bên kia cũng là bờ bên này mà vì bức màn vô minh nhị phân thành sinh tử niết bàn, chơn vọng … Và như vậy nơi “không đáy” đó chẳng là gì khác hơn cái diệu dụng hằng chuyển tịch diệt trong mỗi mỗi mọi mọi cái cái con con đều vuông tròn tự vốn đầy đủ trí tuệ từ bi hùng lực ba la mật rồi. Như mặt trời không mây, chỉ là ánh sáng chơn thường chẳng đến chẳng đi vô sanh mà tự tại tự do như thế như thế vô thủy vô chung tại đây bây giờ vậy. Mới biết chẳng phải làm gì cả, vì cái chơn như viên mãn thảy thảy suốt không gian thời gian trong từng hạt bụi cho đến hữu tình vĩ đại không dấu tích mà trùm khắp, chỉ vì không trực ngộ chơn tánh nên trôi nổi bỏ đó cầu đây loạn cuồng thứ lớp, phân minh mà lụy phiền … Mỗi mỗi niệm đều tự viên thành, toàn mãn. Mỗi mỗi thân là một vô biên thân, không phải một cũng chẳng phải khác, xưa nay đều niết bàn. Sinh tử tốt xâu thiên đường địa ngục là vọng tưởng phân biệt chấp thủ, như người mù rờ voi thấy vòi cho là ống. Con voi toàn điện như nhất có là cái gì mà chia chẻ, so đo, nắm bỏ … Sân, tham, si … và ngược lại hoặc siêu việt chúng đều là không tịch, vô sanh, bát nhã ba la mật. Chứng duyên khởi ngộ tánh không nào có năng chứng sở chứng, với tánh không đâu có chỗ xuất nhập, chuyển cùng không chuyển vì là không có chỗ chuyển, không có chỗ khởi và cũng chẳng có chỗ quy về. Thực tại chân như trùm khắp chẳng ở đây chẳng ở kia, nếu đứng bên nào để thấy để biết đều là biên kiến cả, vì không có chỗ thấy mà gọi là trùm khắp pháp giới tạng thân trong từng sợi lông vô lượng trùm khắp một sợi lông. Mọi thi vi tạo tác vốn diệu lực vô hành vô tướng, chưa có kẻ ngộ người mê. chưa từng cứu thế hóa độ vì vô biên chúng sanh tự tại tự như mà quên mất chẳng biết mình đang tự như tự tại. Do đó chẳng có lý thuyết, phương pháp, hệ thống nào nói về hướng về chân lý cả. Vì chân lý tức thực tại trùm khắp dù một chúng sanh ở địa ngục cũng đầy đủ tánh diệu chơn cho nên địa ngục không sanh, nhân quả vọng hiện, chỉ vì ấn mắt thấy hai mà quên mắt vốn thấy mà tính thấy chẳng phải một hai ba bốn và …

Sát na tâm thường trụ tức một niệm tương ưng với Trí huệ thấu triệt bản tính bất biến tùy duyên của mọi mọi cái cái tánh không duyên khởi trùng trùng bất khả tư nghì luôn luôn chiếu soi vắng lặng sống động vô nhiễm nguyên sơ nhất tính mọi mọi xuất hoạt tổn lưu đều không có trung tâm, không có một vật có thể được. Cho nên nói đến chỗ siêu xuất, vượt cách là nói đến trực ngộ bản tánh chơn tâm diệu không diệu hữu chứ chẳng phải thị phi, ly tức chi cả. Vì vốn là thế mà bất giác bất tri nên phải dùng phương tiện thiện xảo nói ly nói tức nói phi nói thị v.v… và v.v… Không có chỗ thi thiết mà tùy tâm ứng hiện, ứng hiện vô trụ vô tâm. Điều cần lập đi lập lại đến triệu lần như một câu hiển chú để người có mắt xem xét. Đó là tất cả các pháp duyên khởi không tính và như vậy chúng vô sanh, vô ngã, vô pháp, chỉ tùy tâm biến hiện và sự biến hiện của Tâm bất cứ theo nghĩa nào cũng chỉ là tùy tâm biến hiện. Và như vậy nghiệp là chỗ ràng buộc và thấy lầm có ngã có pháp có sinh có diệt, nếu chẳng thấy lầm thì thường lạc ngã tịnh, là vạn pháp xưa nay vốn tự tánh niết bàn bát nhã không tịch. Nói một cách khác, vạn pháp vô sinh bằng cái thấy của Bát nhã chơn như trí. Nhưng lại hiện hữu như huyễn tùy tâm mà vọng lập.

Pháp giới tính duyên khởi nổi lên đầy đủ thể tướng và dụng của mỗi mỗi sự sự vật vật từ vũ trụ tâm linh cho tới thế giới cảnh trạng, từ những phiền não ràng buộc cho tới những cảnh giới siêu xuất giải thoát và cứu cánh niết bàn, không gì ngoài nó. Trí tuệ bát nhã ba la mật cho đến mê si tình thức chỉ vì biết nó hay không biết nó mà thôi. Biết cũng có nghĩa là như chính nó, như là pháp giới trùng trùng duyên khởi, như toàn thể đại dương là Nước chớ không phải là ảnh tượng, biểu tượng, định đề, nguyên lý, ý nghĩa … về nước. Vì ảnh tượng về nước thì chỉ toàn là sóng mà thành có bản thể và đối tượng phân lìa, dù có nói sóng tức nước hoặc là “một” cũng chỉ là vọng tưởng. Cho nên ngoài pháp không có duyên khởi, ngoài duyên khởi không có pháp vậy ! Hễ khi còn có năng chứng sở chứng về pháp tính tức thì cái hoạt dụng vô ngại của duyên khởi liền quét sạch, ngay cả chính nó, để cho mọi mọi cái cái đều như nhiên như thị như là vốn thế, chưa từng sinh chưa từng diệt…

Bản tính của các pháp duyên khởi là “không” và nơi “không” chẳng có sinh tử chẳng có không sinh tử. Thực chứng Tính không của vạn pháp mới thực sự tùy duyên bất biến, mới chạm mắt tức bồ đề, hoa vàng là bát nhã … Không có pháp nào chẳng giải thoát, không có ngã nào chẳng giác ngộ. Chỉ vì không thực chứng tính duyên khởi vô ngã vô nhơn vô chúng sanh vô thọ giả mà loay hoay mãi với tâm thức có không, còn mất … Rồi thêm này bớt nọ, lấy đó bỏ đây, làm gì thì làm cũng chẳng ra ngoài vòng tứ cú, tức cái vòng vận hành của tâm thức sinh tử, tử sinh tương tục khó dứt. Nơi bản tính chân giác không có một vật thì làm gì để được, chỉ vì ngay nơi ngã nơi pháp mà chẳng ngộ lý chơn không diệu hữu của chúng nên nhận lầm cái vọng làm chơn, mà tính giác viên mãn vẫn như như bất động. Như người thấy đồ đạc ở trong phòng mà chẳng thấy cái hư không của căn phòng, như tâm thức nương chơn giác mà biến hiện vạn sự. theo vạn sự bèn quên mất cái chơn không duyên khởi của tâm thức vốn là cái bản giác diệu minh chân tính, niệm niệm thường trụ. thân thân giải thoát. Muôn duyên tự yên, không đợi xem cái giác cùng bất giác nữa, vì cái như như chẳng can hệ gì đến mê và ngộ, mà mê ngộ tự duyên nhau. Thực Tại chẳng thể nói duyên hay phi duyên.

Nếu nắm lấy Vô Biên thì Vô Biên thành hữu hạn. Không chấp thủ hữu hạn thì hữu hạn là vô Biên. Nơi Vô Biên không có đến đi, tội phước, cũng không có tướng Vô Biên huống hồ hữu hạn.

Tâm thức con người càng phức tạp, càng phức tạp nên Pháp càng giản dị. Pháp càng giản dị chứng tỏ pháp lực thâm hậu vô tận nên tâm thức càng triển khai chu dien luân lưu cùng khắp không ngoài Pháp, như Tề Thiên có đủ thần thông phép tắc biến hóa vô số vẫn không rời khỏi hàn tay Như Lai, để chứng tỏ rằng Pháp chẳng đến chẳng đi vì đi đến không cùng.

Tất cả pháp không tự tánh tức vốn đủ niết bàn vậy. Vì không tự tánh nên với pháp sinh tử không thể chấp thủ mà thành chấp thủ tức vô minh vọng tưởng phân biệt không thật, vì không chứng đắc nên với pháp niết bàn mà thành chứng đắc tức như huyễn. Như huyễn, không thật là tướng duyên khởi để biểu hiện thể tính không tịch của các pháp lìa xa vọng kiến thường còn đoạn diệt …

Giác tính không chủ khách, nhưng là thực tại sống động nên diệu dụng hằng sa. Nên không ngại khách chủ, mà hiển hiện thành kiến văn giác tri. Biết tự tánh không tịch của kiến văn giác tri thì kiến văn giác tri là tướng bồ đề. Như ngộ vị giác vốn không thì mùi vị lạt cay ngọt mặn đắng là duyên khởi niết bàn. Sanh mà chưa từng sanh, chưa từng sanh mà sanh đó là cách điệu của vô sanh bất diệt. Tụng rằng :
Các pháp xưa nay thảy đều chơn
Vô cớ tìm tâm thấy hoa đốm
Biết vọng vô sanh tiêu hý luận
Vạn pháp xưa nay chẳng mất – còn … !

 

Biết mình? Mình là cái gì ? Biết là cái gì? Chỉ là vọng hoặc. Không có mình nào có thể biết, không có cái biết nào mà chẳng có đối tượng để biết, do đó năng tri sở tri chỉ là một thứ như con hát mẹ khen hay hoặc vì do tâm mà thấy có vật và do vật cũng làm hiển lộ tâm, mà tâm và vật, năng tri và sở tri, mình và biết mình … đều là hư vọng, nhơn duyên giả lập tạo thành. Cho nên hễ có vật bị thấy thì ắt là có cái thấy vật, có cái thấy vật thì cái vật bị thấy cũng bày ra, tâm cánh tương sanh có gì là thật, chỉ biết không thật chớ chẳng nên thêm cái giả có vào, vì biết giả có hoặc không thật thì tự tánh tịch diệt không còn bị tâm và vật, trong ngoài, trên dưới … xiềng xích, kiểm soát, điều hành … Vì vốn không có mình vậy !

Tất cả phương tiện thiện xảo hoặc thuận hoặc nghịch của chư Phật. Tổ chỉ bày cần phải xem xét toàn diện vấn đề chớ có lấy một bỏ mười, cũng chớ có thêm bớt mà cần thể nghiệm thực chứng, lấy giác ngộ giải thoát tam giới và nhập pháp giới thể tánh trí làm tiêu chuẩn. Có khi nói đông để chỉ tây, có khi bày nam mà hiển bắc, hoặc ngay đó là phải, hoặc ngay đó là chẳng phải, v.v…

Học Đạo dễ rơi vào đường tẻ trong khi Hành Đạo. Hễ có chút ít mùi vị dù thô dù tế liền động tâm chứng đắc mà kỳ thực Đạo chẳng thô chẳng tế, chẳng mùi vị chẳng không mùi vị… Nếu không ngộ lấy bổn tâm chứng ngay pháp tính duyên khởi vô sanh vô ngã thì làm gì cũng là bóng ảnh của chân lý, chớ chẳng phải đích thị là chân lý biểu hiện. Tự tánh chân tâm không có dục không có sắc không có vô sắc cho tới niết bàn sinh tử đều chẳng khởi chẳng trụ thì mọi tạo tác thi vi từ đó mới là chân giải thoát vì không có tướng sinh tử tướng niết bàn. Nếu chẳng ngộ tự tâm thì làm lành lánh dữ cho đến lên trời xuống đất làm tịnh làm uế đều chẳng thoát “lưới trời lồng lộng tuy thưa mà chẳng lọt”, còn ngộ tự tâm thì tất cả là vô sinh vô tướng dù làm địa ngục nói thiên đường nghĩ ta bà tịnh độ cũng đều là chuyện bên ngoài không dính một mảy lông nơi chân thân ông.

Cuối cùng, trung tâm của vũ trụ vẫn là cái tôi. Khám phá cái tôi vốn vô sanh thì cũng khám phá được toàn thể vũ trụ. Vì vũ trụ là những tương quan của thời gian và không gian và tâm thức. Tâm thức tức cái tôi trung tâm đó cũng là “không” nữa thì vạn pháp cũng là vô hữu. Vì thực sự “tôi” cũng chỉ là một pháp hữu như những pháp khác như thời gian, không gian dù bất cứ chiều kích nào. Hữu và vô hữu là những pháp tương tác nên tôi, và tôi cũng chỉ là một pháp để tương thành vạn pháp. Như thế, không có một trung tâm nào cả. Ngã vô sanh thì pháp cũng vô ngã. Và vô sanh vô ngã … thì không phải nói hữu hay vô hữu mà chỉ là duyên sinh không tự tánh, không thực thể. Tôi không phải tự sanh, không phải tha sanh, không phải cộng sanh, cũng chẳng phải vô nhân sanh mà là vô sanh không tính duyên khởi. Cho nên pháp và ngã chẳng phải hai, chỉ vì đào bới không tới tận đáy nên tưởng rằng có chấp ngã rồi bỏ đi vì chỉ là hư vọng, lại cho có chấp pháp rồi tìm cái hư vọng của pháp mà dứt lầm, đó chỉ là muốn đi con đường dài chớ thực ra thấu triệt một cọng cỏ, một trạng thái tâm, một cử động … liền chứng ngộ pháp tính vô sinh bất diệt, chưa từng có hữu hay phi hữu vô hay phi vô.

Vô Ngã Trí là Phật. Vì vô ngã nên chứng đắc niết bàn, vì vô ngã không được sáng tỏ nên chịu sinh tử luân lưu. Sinh tử khổ đau mê lầm chỉ có nơi “tôi” chớ không có nơi thực tại chân như duyên khởi vô ngã. Vì từ tôi mà thấy mà biết và những thấy biết lại hình thành, xiềng xích, chấp thủ … Vì không thấy tôi là vô ngã nên chẳng rõ pháp là vô sanh ! Chẳng rõ pháp là vô sanh nên cũng chẳng” thể thấy tôi là vô ngã. Vô ngã vô sanh là thể tính tự tại vô ngại của mọi mọi cõi Phật !

Như vậy, tất cả bí yếu của sinh tử đủ mọi dạng loại cho đến sự thấu triệt nguồn mê đều đã được tuyên thuyết đầy đủ từ một Tâm giác ngộ viên mãn, Từ vật chất vô tri đến tinh thần phân lập đa phức hình thành nên tâm cá nhân sai biệt đến tâm toàn thể của các vũ trụ cảnh giới đều là một Tâm Toàn Giác. Vật chất chẳng phải. Tinh thần chẳng phải, cá thể chẳng phải, toàn thể chẳng phải (Carl Jung đã lầm khi cho tâm toàn thể là Tâm giác ngộ, thực ra tâm toàn thể chỉ là A lại da thức mà thôi, cần phải trực thức tâm toàn thể để chuyển hóa và chọc thủng chúng rồi thì Tâm Giác ngộ mới viên mãn tức không gì chẳng phải là Phật pháp – cảnh giới Chân như) tức Tâm này không tính, từ không tính duyên khởi nên tất cả pháp và tất cả pháp là không tính, bất sinh bất diệt. Cuộc hành trình gian nan mà kỳ thú, vô tình chẳng thể tự giác, hữu tình có khả năng giác ngộ nhưng tâm thức lại là con dao hai lưỡi, do nó mà giác ngộ, do nó mà trầm luân. Phải một phen chặt đứt (thấu thoát, chuyển y) mạng căn tức Alạida thức hoặc tâm tương tục chấp ngã pháp thì không gì chẳng phải là Viên giác tự tánh niết bàn.

Vũ trụ thân tâm hình thành bởi nhân (yếu tố) và duyên (điều kiện) tương tác dung nhiếp lẫn nhau mà thực là rỗng không biến hóa của khối lượng, năng lượng và tâm lượng tức danh và sắc, tâm và vật. Nhận thức triệt để điều này gọi là giác. Và giác tính thì ngoài mọi nhân duyên mà tùy duyên để khai thị ngộ nhập niết bàn. tức tự tính vô sinh của mọi tương tức tương nhập. Nhân duyên bất khả đắc như giác tính cũng vô sở đắc nên tự tính tự tại vô ngại.

Bạn thấy không ? Tôi sẽ đập vỡ cái ly này ra để nó không còn là cái ly nữa và nó sẽ trở thành mảnh vụn ! Nhưng cái gì làm ra tác nhân đập vỡ cái ly đó ? Cái gì làm ra à, đó cũng như cái đập vỡ cái ly, có lẽ bạn cho rằng có một nguyên nhân đầu tiên cho hết thảy vạn sự vật, không đâu, chỉ là một chuỗi nguyên nhân làm duyên cho nhau mà sự thực không có một nhân hay một duyên cho đến một chuỗi nhân duyên nào cả, nó vốn vô sinh và biểu hiện bản tính vô sinh ấy bằng sự sống động vô trụ chớ chẳng phải ngoan không hay thực hữu, giả hữu nào ! Nếu bạn chứng thực điều này mà không phải nhận thức qua khái niệm ý niệm luận lý hay bất cứ trung gian nào bạn sẽ thấy vạn sự vật vốn niết bàn, tự tại vô ngại trong mọi hành dụng hay vô vi, không uế không tịnh, không phải thế này hay không phải thế kia ! Và thiền định tức thấy biết như thực về chính mình và vạn pháp chớ không phải để đồng hóa, thăng hoa, phủ nhận, chấp nhận, chạy trốn vấn đề bằng giải thích, xác định, ảo giác chi cả. Và thiền định như thế là giác ngộ và giải thoát khỏi mọi vọng tưởng về vạn sự vật. Như thế, vô sinh chẳng phải là sinh hay bất sinh theo nghĩa cộng trừ nhân chia, hay tứ cú, hay bốn bệnh, hay bốn tướng, hay bốn sinh (tự, tha, cộng, vô nguyên nhân hoặc noãn, thai, thấp, hóa …) nhưng cũng chẳng lìa những thứ đó mà gọi là vô sinh được. Nó chỉ thuận hợp với bất cứ luận lý nào dù là “hình thức” hay “cái nhiên”, khi có sự thực chứng chính nó, nếu không vô sở đắc sẽ trái nghịch, bất toàn…) Khi nó còn nằm trên bờ vực của ý niệm hữu vô hay ngôn ngữ trùng phức. Khi bảo rằng cái chân tính không can hệ dính dáng chi đến những vọng tâm huyễn hiện thành thế giới sai biệt cũng có nghĩa là vạn pháp giai như. chẳng phải do ý niệm phát sinh mộng mị về vạn pháp. Biết vọng tâm thì vọng tâm mất đi như cái bóng mất đi khi chỉ còn là cái sáng của lửa, tức nhất tâm. Nhất tâm thì không sinh không diệt các pháp nhưng các pháp nương nhất tâm mà thành lập, nhưng nếu không có các pháp thì nhất tâm cũng chí là lông rùa sừng thỏ, hư vô. Mặt trời chỉ là mặt trời không phải nóng, không phải chẳng nóng, không phải sáng, không phải chẳng sáng … vì nóng sáng hay không là những phẩm tính, thuộc tính tùy thuộc vào vạn pháp danh sắc, tâm vật… sinh khởi. Tự “nó” bản tính không tịch, và nếu không có “nó” thì vạn pháp cũng như lông rùa sừng thỏ, hư vô. Bản tính chẳng phải là thuộc tính, phẩm tính … Nhưng không biểu hiện thuộc tính, phẩm tính … thì bản tính cũng không nương đâu mà lập. Rốt cùng chỉ là vọng tâm phân biệt do ảo giác đầu tiên sinh khởi từ cảm thọ tri giác mà cố chấp lấy thành nhận thức, quan niệm về cuộc đời và con người, vũ trụ và thượng đế … Vọng tâm không sinh, pháp còn chẳng có huống hồ phi pháp. Do đó Tâm vô sinh thì vạn pháp như thị ! Bản thể và đối tượng, chủ khách chỉ là một giấc mộng đêm qua !

Chúng ta thường nói cuộc sống muôn màu, còn chúng ta thì mỗi người một vẻ. Thực sự thì chúng ta phải muôn vẻ mới xứng đôi vừa lứa với cuộc đời. Nếu không chúng ta sẽ chỉ nắm bắt một phần của cuộc sống. Chúng ta trọn vẹn thì cuộc sống mới toàn mãn, chúng ta không toàn mãn thì cuộc đời sẽ không trọn vẹn. Cái toàn diện thì toàn diện từ đầu đến đũa, từ tổng tướng đốn tự tướng, một trọn vẹn thì tất cả viên mãn, cụ túc. Cụ túc chẳng phải an phận thủ thường, có bao nhiêu thì thỏa mãn bấy nhiêu, cũng chẳng phải ngược lại hoặc phát triển một cách hỗn độn, chắp nối theo đường lối suy diễn hay quy nạp. phân tích hay tổng hợp. suy luận hay trực quan … cái toàn mãn cụ túc là cái không thể nắm bắt cũng chẳng phải cái buông đi, mà chính là cái sinh diệt vốn tịch diệt thì mọi trò đùa sẽ là cái như nhất, như thị. Kháng có chung cuộc vì chưa từng có khởi đầu, cũng chẳng phải cái thường lại bất biến vĩnh cửu theo ý nghĩa thời gian hay siêu quá thời gian. Cái đó chẳng phải ở trước mắt mà cái trước mắt chỉ là biến hiện của cái đó. Cái biểu hiện tự nó chẳng từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu, cũng chẳng phải là vô cớ. Cái không tịch cũng là cái đang là cũng là cái “như thế” không nằm trong bất cứ “chỗ đứng” nào, vì nó không phải cái thấy và cái bị thấy. Một hạt cát chỉ là sự có mặt của tâm thức, sự có mặt của tâm thức sẽ là không nếu không có hạt cát, và hạt cát cũng là không nếu không có mặt của tâm thức. Nhưng tâm thức vô sở đắc vì hạt cát cũng bất khả đắc. Chỗ “vô” đó cũng vô sở đắc nữa vì thực tại không ở bên này bờ cũng chẳng ở bên kia bờ, mà chính là một dòng đời như nhất không tên gọi. Bảo rằng có vô thường cũng chẳng phải mà cho rằng thường tại cũng chẳng phải vì duyên khởi không tính vô niệm vô trụ vậy. Không có dòng đời, vì không có ai là kẻ chứng nhận dòng đời đó. Pháp vô ngã thì không có gì để nói mà vẫn nói, vẫn nói mà chưa từng nói nên cái vô minh cũng là một phần, một vẻ trong cái muôn màu của Như Lai tạng tính tịch diệt kia.

Tôi đến trong Tự Do và đi trong Tự Do. Tất cả đều như thế. Chỉ vì không trực ngộ vạn pháp duyên khởi không tính mà bị ràng buộc rồi kiếm tìm giải thoát, nhưng dù ràng buộc hay giải thoát cũng chỉ là duyên khởi không tính vô sinh. Duyên sinh vô ngã hay Như lai tạng pháp thân hay Bát nhã không trí hay bất cứ từ ngữ nào cũng được đều chỉ cái tự tại tự do như thế. Cho nên khám phá cái Tự Do Tự Tại Tự Như tức là kiến tính khởi tu tức là “người biết bản tính vạn pháp mà xử sự như bản tính vạn pháp” chớ không bị chủ khách dao động nữa. Nếu chưa ngộ mà tu thì Pháp đang xử sự người, như mặt trời với người mù. Ngươi mù không phân biệt sáng tối, chơn vọng mà vẫn sống được trong vô minh vì mặt trời đều lợi ích khắp cõi mê ngộ. “Mặt trời” thì không cõi, không sáng không tối mà không gì chẳng biểu hiện vì Tự Tại không năng sở, không còn mất…

Có thể nói Pháp thân chẳng thế này hay thế kia. Nhưng vì không trực ngộ pháp thân nên mới tạm bày thế giới ý niệm tức vạn pháp vọng tâm duyên khởi. Vì vọng tâm duyên khởi nên vạn pháp có vẻ “sáng” hay có vẻ “tối” tức chân đế và tục đế. Và khi nói điều này là mô tả cảnh giới phàm thánh còn có thể nói được để tiếp dẫn về với Chơn như bản tính tức Thắng nghĩa đế. Nhưng Thắng nghĩa đế là sự thấu triệt chơn và vọng, nó vô sinh và vì thế chẳng thể nói Pháp thân là tổng thể hay Siêu thể hay nhất thể v.v… “Thực chứng” Tính không duyên khởi tức Pháp thân vô tướng vậy. Cũng như nói Bạch tịnh thức là nói chỗ vô sở tại của các thức kia chớ chẳng phải Bạch tịnh thức, ngũ trí như lai, v.v… là chơn ngã, đại ngã … gì gì hết cả.

Nói “Tôi đến trong Tự Do” … là nói theo dung tục chứ thực sự thì Tự Do là tôi là đến trong Tự Do là đi trong Tự do. Nhưng nói thế cũng còn dung tục, phải nói là “Vạn pháp giai như không từ đâu đến không đi về đâu”. Nhưng nói thế vẫn còn thiên tịch, phải nói vô Biên đến trong Vô Biên đi trong Vô Biên để diễn tả cái chân như pháp giới sóng động trùng trùng linh hoạt nọ. Nhưng nói thế vẫn còn kẹt trong từ ngữ. Dùng linh ngữ hoạt dụng chỉ bày thì độc đáo hơn. Một tiếng hét trùm khắp pháp giới, khắp pháp giới chỉ là một cái búng tay ! Như thế có vẻ bóc vỏ chuối xong mời người ăn ! Tôi còn nhớ mỗi lần tăng vào thất, Đại Huệ đều nói “chẳng phải, chẳng phải” không khác gì lột truồng thiên hạ chỉ cái vô sở đắc vô ngôn thuyết cho họ tùy dùng như ý. Còn gì ! Không còn gì ! Chớ nhè trên ngón tay mà tưởng mặt trăng, cũng chớ chạy theo phủ định, vì chạy theo bất cứ cái gì đều bị phỉnh cả. Tốt hơn hết phủi cả hai tay ngồi xem thiên hạ thái bình ! Coi chừng nhàn cư vi bất thiện đó nhé !

Chỉ cần biết một câu hỏi thì cũng giải đáp xong mọi câu hỏi khác. Chẳng hạn như “Con người là gì ?” hay “Sao gọi là Phật?” hoặc “Thế nào là cái cây?” v.v… Biết hỏi tức trả lời, tức cái vọng sinh thì cũng vọng diệt, cái không sinh không diệt thì có gì mà hỏi mà đáp. Vậy thì cái không sinh không diệt là cái gì vậy ? Đã bảo cái không sinh không diệt không có trong câu hỏi lời đáp mà còn hỏi nữa thì chính là cái vọng không sinh cái vọng không diệt, cái không vọng không sinh cái không vọng không diệt … và cứ như thế mà đáp ắt có ngày… Ngộ ! Ngộ cái gì? Ngộ một câu hỏi !

Cái Vô Biên thì không có Trung Tâm cũng chẳng có chỗ khởi, chẳng có cuối cùng, chẳng bờ mé, chẳng phải là một Hữu Thể, một Vô Thể, một Tha Thể. một Siêu Thể … Nếu nó là cái gì thì không thể gọi là Vô biên được mà chỉ là cái danh cái sắc người ta phóng chiếu ra nó thỏi. Cho nên một hét, một đánh trong thiền môn chẳng phải để ông rơi vào bốn bệnh, ngũ ma … mà chỉ giúp ông Tỉnh Mộng. Nếu ông Tỉnh Mộng được thì Thực-tại-hiện-tiền-đương-là-như-thị ở trước mắt ra sao ông tự thấy, không ai thấy cho ông được, nếu có ai thấy giùm cho ông được thì cái trước mắt chỉ là cái sau lưng vậy !

 

“Hạt châu trong búi tóc’’,cái gì là búi tóc. Biết được búi tóc sẽ thấy được hạt châu. Ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả … là búi tóc. Tóc thì nhiều lắm đủ mọi dạng loại nhưng không ngoài bốn thứ đó. Ngay trong bốn thứ đó có hạt châu, như nơi bùn có hoa sen, nhưng hạt châu chẳng phải là búi tóc, chớ nhận lầm búi tóc là hạt châu là được. Được cái gì ? Không biết! Chẳng phải là được hạt châu sao ? Không biết !

Tâm thức có khả tính vi diệu. Vậy mà khi lên cao nó không biết dưới thấp, khi ở dưới thấp nó lại chẳng biết trên cao. Do đó mà nó phải lặn lội để biết đủ điều, duy có một điều nó không biết gì về chính nó. Con người có thể tạo phi thuyền thám hiểm không gian nhưng không biết ai đã tạo nên vũ trụ để cho họ thám hiểm. Họ hảo rằng chắc có một cái gì đó. “Cái gì đó” chính là cái vô minh của họ về thực tại Tính Không Duyên Khởi vô ngã vô nhơn vô chúng sinh vô thọ giả. Nếu họ biết được tha hồ rong chơi vô sở cầu chẳng cần tạo tác, thám hiểm này nọ mà không gì chẳng biết nơi du hí thần thông tam muội tại.

Pháp giới không ngằn mé chỉ là một hạt châu. Vậy con người, cục đất, chư thiên … có phải là hạt châu không ? Đã bảo khắp pháp giới chỉ là một hạt châu mà còn hỏi cái này cái kia phải hay không phải làm gì. Hạt châu chẳng phải cái này cái kia. Mọi thứ không can hệ gì đến Hạt châu. Chỉ nói khắp pháp giới chỉ là một hạt châu ! Ngoài ra chỉ là vọng tưởng. Vọng tưởng như lông rùa sừng thỏ nào có can hệ !

Ngộ pháp giới tính tức thấy hạt châu. Không ngộ pháp giới tính thì hạt châu trên búi tóc. Hạt châu tức nào nơi nào cũng có, sinh cũng có tử cũng có chỉ là tùy duyên mà được, theo duyên thì mất. Được và mất hạt châu vẫn ở đó. Hạt châu chẳng vọng, cũng chẳng chơn. Pháp giới cũng không phải đây, kia … Hễ được hạt châu thì vọng là chơn, nắm pháp giới thì chơn thành vọng. Tuy thế, chơn và vọng, hữu và vô, uế và tịnh… không dính dáng gì đến cái khắp pháp giới chỉ là một hạt châu !

Cái gì đang thì đã từng sẽ, cái gì đã thì đã từng đang. Tốt xấu, thương ghét, trí ngu, vinh nhục … cũng thế có gì vui có gì buồn có gì phiền ưu khổ não khoái lạc an lành ! Hễ có trạng thái, cảnh tướng …. thì có biến đổi, cái biến đổi thì như nắm hư không cho rằng được. Chi bằng mình là hư không thì hay biết mấy ! “Thánh nhân tác vạn vật đó”, “Trời đất xem vạn vật như chó, rơm”, “vì có nhân nghĩa nên mới có đạo tặc”, “Cái này phải chăng ? Tức là chẳng phải vậy ? Vì sao? Vì phải với A mà trái với B. Cho nên phải cùng chẳng phải đâu cần tranh đấu” … Đó là những lời lẽ của Lão Trang như cọp gầm thét làm bọn cáo già phải bỏ chạy không còn dám thiết lập mọi giá trị hư vọng đó đoạt danh, lợi, quyền, lực … nữa. Buông xả tự nhiên giải thoát. Giải thoát khỏi mọi sợ hãi thô trọng thì tâm trí được tĩnh lặng chiếu soi cái gì chẳng phân minh, liễu giải.

“Vạn pháp giai như”, “Nhất thiết pháp không”, “Duyên khởi tánh không”. “Ngũ uẩn giai không” … là để chỉ rằng vạn pháp xưa nay vốn tịch diệt, thường trụ tức không có chỗ sinh không có chỗ diệt, chưa từng sinh chưa từng diệt hoặc bất sinh bất diệt hoặc Tự tánh niết bàn hoặc “Bổn lai vô nhất vật” … Nó thoát khỏi mọi nhất nguyên, nhị nguyên, đa nguyên và kể cả vô nguyên … vì tất cả pháp không tịch, tức không có pháp nào chẳng phải Phật pháp. Vậy thì các pháp lăng xăng như hoa đốm là lỗi tại chỗ nào ? Lỗi tại thấy lầm, nhận giặc làm con, và tiếp tục như thế cho tới vô số vị lai vô số tướng trạng, nếu không tự ngộ cái “Tính không duyên khởi” tịch diệt này thì chẳng bao giờ chuyển hóa được cái lầm thằng giặc, hoa đốm, lăng xăng … thành nhất thiết trí được. Bởi chuyển được thì toàn là Niết bàn diệu tâm, cùng khắp pháp giới không ngằn mé chỉ là một vị chân như. Không một hạt bụi có thể được ! Cứ nhè trên văn tự thì làm sao thấy được cái mặt trăng. Rốt cuộc chỉ là kẻ bị chữ đùa ! Ngày nay nói tâm sinh vạn pháp nhưng cũng có thể nói được vạn pháp sinh tâm. Ngày mai nói Tâm là vạn pháp thì cũng nói được Vạn pháp tức tâm v.v… Luôn luôn trở trái làm mặt, lấy mặt làm trái như thế biết chừng nào xong ! Tâm là cái gì ? Vạn pháp lại là ai ? Nắm trọn hoặc ném trọn có được chăng ? Biết không tịch chăng? Không tịch biết chăng ? Tất cả rõ ràng minh bạch chưa từng che dấu, chỉ vì ông chạy trốn mặt trời đó thôi ! Nhưng chạy đâu cho khỏi nắng? Mặt trời có chạy trốn mặt trời chăng ? Tâm có một có hai chăng? Vạn pháp là nhiều hay là ít? v.v… Chỉ cần ông lãnh hội hai chữ tịch diệt tức niết bàn thì chỗ lĩnh hội đó còn chẳng thể được nói gì đến lăng xăng sinh diệt hoa đốm như huyễn v.v…

Biết cái đối lại là vọng
Thì cái phi đối lại không chơn.
Đạo ở đó, chẳng nhọc công ông tìm kiếm
Rửa bát ăn cơm nào có sự gì !
Vô sở hữu chẳng phải là không có
Vô nhất vật chẳng phải là không không,
Chỉ tại ông suốt đời làm khổ,
Khó mệt rồi “nằm mộng” bảo dễ như chơi
Vẫn là chuyện tùm lum xuôi ngược
Có cái gì chăng khi ông mở miệng nói
Có cái gì không khi ông múa máy tay chân.
Nếu bảo rằng đó là cái linh quang huyền diệu
Ông lại tưởng tượng rồi có biết chăng?
Đại An bảo ba mươi năm ở núi
Ăn cơm Đại An ỉa cứt Đại An.
Ngoài ra chẳng biết Thiền hiểu Đạo !
Ông cho rằng Đại An nói cứ “tự nhiên” …
Hoặc nói “có sẵn” mà người ta không thấy.
Phải chăng? Trái chăng? Đại An tự biết.
Biết cái gì ? biết mình tự bôi lem mày mặt.
Biết “mặt mày” chẳng thể bôi lem.
Khắp pháp giới chỉ là tâm ông ảnh hiện.
Ảnh hiện là gì trở lại xem tâm (lại thấy hoa
đốm).
Khắp pháp giới không gì chẳng đủ.
Bởi vì Tâm chẳng phải vật gì.
Nên không chi mà chẳng biết.
Biết trùm khắp mà chẳng biết cái chi hết trọi
(Nếu biết cái gì thì chỉ biết cái ảnh hiện mà
thôi).
Thế ấy, chỉ là ăn cơm rửa bát.

Dùng ngôn ngữ để chỉ cho ông thấy cái chẳng phải ngôn ngữ, ông lại đi tìm ý nghĩa của ngôn ngữ (khái niệm, biểu tượng …). Cũng như ngón tay để chỉ mặt trăng. Không nương theo để thấy mặt trăng lại đi tìm hiểu ngón tay. Tìm hiểu ngón tay cũng không đến nỗi tệ, giống như người xem coi thuốc độc hay thuốc giả hoặc chỉ chỏ có lầm phương hướng chăng. Nhưng bảo rằng khám phá ngón tay cho rằng khám phá mặt trăng sẽ là điều rắc rối. Và hiện nay chúng ta thực sự rắc rối bởi vô số con đường được tạo ra bởi người đi trước mặc dù chẳng biết đi về đâu. Tốt hơn hết chúng ta nắm lấy cái chày Kim Cang “Duyên Khởi” mà dùi mài từng lớp vô minh ắt một ngày nào đó thủng luôn cả mặt trăng chớ đừng nói thấy mặt trăng.

Nếu biết vọng một cách toàn diện và triệt để thì khỏi cần trừ vọng, vọng vốn là chơn. Nhưng vì không biết vọng một cách viên mãn nên mới nắm lấy chơn thì chơn lại là vọng. Vì cái chơn (như hư không) chẳng thể nắm bắt. Xưa nay khắp pháp giới chỉ là một Nhất Tâm Bất Khả đắc vô sở trụ vậy rồi lại nhận lấy cái bóng của nó làm mình làm vũ trụ cảnh giới … nên bị sinh tử phiền não trôi lăn. Thực sự toàn là “Nước” không có một chút sóng nào cả, chỉ là nhận ảnh tượng của nước mà thành sóng đó thôi. Chưa từng đến chưa từng đi đâu cả Vô Biên ạ!

Vạn pháp chưa từng vọng
Như gương hiện bóng hình
Tùy ông khởi thấy biết
Xấu tốt tự duyên nhau
Gương kia không xấu tốt
Cũng chẳng nói bóng hình
Hiện hay không hiện tướng
Cũng chẳng phải vô tri
Vì gương kia vốn sáng
Nhất nhất thảy đều Như !
Tâm cảnh như ảnh trong gương, lấy ảnh trong gương mà thấy bóng nên chỉ là tâm cảnh tương sanh rồi khởi vọng kiến hữu sự vô sự v.v… Thực ra gương chẳng nói hiện hình hay không hiện hình gì ráo. Chớ nhận lầm (năng sở) kẻ trong gương đang thưởng thức cảnh trong gương là gương ! Gương dụ chân tâm Tính không, kẻ trong gương cùng cảnh trong nương dụ vạn pháp tức tâm cảnh duyên khởi ! Nếu không có kẻ soi gương nhận lầm rồi hết lầm thì quả nhiên vạn pháp xưa nay tịch diệt. Bổn giác chân không chẳng thể nào thi thiết. Pháp giới chỉ là một hạt châu vô sở đắc ! Vì bổn giác diệu minh nên có vô minh (ảo giác) mà có thủy giác, viên giác. Gương sáng chói ảnh tượng, nơi ảnh tượng có mê (ảo giác), ngộ (thủy giác) rồi thì hết mê hết ngộ chỉ là viên giác. Mặc dù bổn lai vạn pháp duyên khởi giai không, có Phật hay không Phật thì vẫn thế, nhưng không Phật thì bổn giác chẳng thể viên giác. Do đó mới hiển bày giáo pháp Thể (gương, bổn giác) Tướng (ảnh trong gương) Dụng (người soi gương cùng ảnh hiện trong gương). Nếu thể (bất biến) mà không có dụng (tùy duyên), như vậy là thiên tịch, nếu không chứng (thể) chân như thì dù có vô ký bất động cũng là theo duyên tạo nghiệp. Cho nên ngộ mê tùy dụng trực nhận bổn giác viên mãn hay không trực nhận (gương sáng) mà lầm kẻ soi bóng thành sinh tử, hữu hạn. Cho nên nói không có kẻ lầm thì cũng chẳng có gương sáng, chẳng có gương sáng thì chẳng có vạn pháp. Thể tướng dụng duyên khởi tính không, vô nhất vật ! Bùn chẳng sinh sen, nhưng nếu không bùn thì sen chẳng có, nếu không sen thì bùn cũng chẳng thành ! Sống chết tự như, viên dung linh hoạt vô ngại, chẳng phải một chẳng phải khác. Chơn vốn tự chơn, vọng chưa từng là vọng. Phiền não tức Bồ đề, chúng sinh vốn là Phật ! Nhận được liền xong, “Nước trong văn vắt thấy gì nữa đâu”, không trừ vọng chẳng chứng chơn, như vạch sóng tìm nước. Ý nghĩa còn có thể diễn tả được về “ảnh hiện” của chơn không diệu hữu đến đây chỉ còn đòi hỏi trực ngộ chớ chẳng thể lời suông. Và để lời suông là thực thì trực ngộ được sẽ chứng minh điều đó. Ngôn ngữ luận bàn, kiến văn giác tri, đi đứng nằm ngồi … đều là một chơn giác, không một không hai cũng không ba !

Ngộ không phải là thấy Tâm sinh vạn pháp, hay Tâm là vạn pháp, hay vạn pháp quy nhất tâm, cũng chẳng phải làm xong một công việc mà suốt đời mình đeo đuổi một cách tốt đẹp. cũng chẳng phải “đột nhiên mất hết”, “tất cả rỗng không” “tất cả vắng lặng”, cũng chẳng phải giải nghi một vấn nạn to lớn, cũng chẳng phải như tìm được đáp số cho một bài toán vô hình hoặc hữu hình nào đó … v.v… Ngộ chính là biết tất cả những tướng trạng như thế đều vô thường, vô ngã, không … chẳng dính dáng, can hệ chi đến Ngộ cả. Thì “Ngộ” cũng chính là cái “Biết” trùm khắp pháp giới mà không đâu có thể “ô nhiễm” được nó, nó ở đây – bây giờ nhưng không phải cái trước mặt, nó xuyên suốt và siêu việt sự vật và bản tính của sự vật và nó chẳng phải là phẩm tính nào cả ngay cả bản tính hoặc sự vật ! Biết chăng!? Nó không là nền tảng mà là nền tảng của vạn sự ! Ngộ chính là vạn pháp giai như, tịch diệt, không tính, niết bàn … mà không có tướng vạn pháp, không có tướng như, không có tướng tịch diệt, không tính, niết bàn … Thấu chăng !? Thấu được, Biết được liền có tạo tác mà không thấu không biết được cũng là có tạo tác vì thấu hay không thấu vốn vô tác, vô đắc nên gọi là thấu suốt, thủng đáy… Từ đó mọi thi vi tạo tác đều là nó mà không có tướng sinh tử, vô minh, không có tướng niết bàn, giác ngộ … Nếu không chạy theo ý thức (tức như mình chạy kiếm để biết mình) dù bất cứ ý thức nào (nguyên ý thức không chạy theo ý thức) thì ngay đây Ngộ đi ! Không cần động đến “Phất tử” !

Người ta bảo “Duyên sinh” được hình thành như xâu chuỗi bất tận. Đúng đấy, nhưng một xâu chuỗi không có “sợi dây” nào xuyên qua các mấu chốt nhỏ, to, có, không… Biết cái sợi dây vô hình đó chăng ? Nếu khám phá được thì vô minh tự tan thân mất mạng mà xâu chuỗi bây giờ lại là Pháp giới vô bờ ! Ngã chăng ? Pháp chăng ? Chỉ là những tướng khái niệm để nói về sợi dây. về xâu chuỗi. Khi “sợi dây” đã được khám phá thì vô ngã vô pháp cũng chỉ là tướng khái niệm! Chỉ là không có tướng khái niệm, ý niệm, tâm niệm, vọng niệm … chớ chẳng phải là “không là gì cả”, “không có gì cả” vì khắp pháp giới không thiếu không dư đâu đợi trừ vọng (bỏ) chứng chơn (lấy) !…

Như thế, suối đời Phật thuyết pháp mà các pháp vẫn Như, các pháp vẫn Như vì các pháp tịch diệt, “vô minh diệc vô vô minh tận”, không kể là pháp thuyết hay phi thuyết, vô ngôn. Pháp tánh hay pháp tướng, pháp liễu nghĩa hay pháp chẳng liễu nghĩa, nụ cười, lá cây, giải thoát, mê si, không mê si … hết thảy đều là Như Lai. Hết thảy đều là Như Lai, vì hết thảy Pháp chẳng phải Pháp chẳng phải không phải Pháp. Ngủ say, có mộng, thức … cùng các thứ đại loại tục tĩu hơn, hay cao tột hơn, siêu đẳng hơn … đều không chi là chẳng phải. Chẳng phải cái gì? Cái chẳng phải là phải chăng? Cái phải là chẳng phải chăng ? Cứ như thế mà tham, ngay khi tham liền ngộ, hay suốt a tăng kỳ cũng có thể. Có thể thế nào? Có thể ngộ hay chẳng ngộ? Biết !!!
“Như Lai Tạng Tính chẳng phải (Tính Không) …
Cũng tức là (Duyên Khởi)…”
Ngộ rồi thì chẳng thể nói “chẳng phải”
Cũng chẳng thể nói tức là …. .Vì Như Thị vậy !
“Như Lai Tạng Tính tức phi Như Lai Tạng Tính thị danh Như Lai Tạng Tính”. Sự im lặng của đức Phật làm cho giáo pháp của ngài luôn Sống Động ! “Vô sở trụ nhi vô sở trụ tướng” !

Khi chúng ta thực sự thấu hiểu một vấn đề gì đó là lúc chúng ta thoát khỏi vấn đề, tức tự do với vấn đề. Điều này cũng nói lên sự giác ngộ cũng là sự giải thoát khỏi cái vòng sinh tử tương tục mịt mù vô tận không biết từ đâu đến rồi đi về đâu. Đạo Phật không phải là đạo suy tư trên mặt luận lý ý niệm mà là chánh tư duy trên thực tiễn của thân phận và thế giới người. Chỉ như thế nó sẽ bắt gặp được “sự thực” về con người và thế giới mà không qua bất cứ niềm tin siêu hình, đạo đức thực hành, luận lý ý niệm, tâm lý phân tích hay quy nạp tổng quát nào. Cũng không phải bất cứ kỹ thuật thiền định quán tưởng cùng các thứ phân ly và đồng hóa hoặc tha hóa. Thực là rõ ràng khi “cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt”, nó có vẻ nhân quả duyên sinh tầm thường, mà thực là chỗ siêu việt nhân duyên quả báo cho đến thấu thoái chơn vọng, nếu thấu triệt điều này tức chúng ta đã thâm nhập chân không – diệu hữu, tự do – nhân quả, “dù bất cứ diễn dịch theo chiều ngang hay chiều dọc, dù rộng hay hẹp, dù nghĩa đen hay nghĩa bóng, tất cả đều đúng như thực về bất cứ sự hiện hữu của ý niệm hay của cái cụ thể như cái cây, con chó, v.v… để chứng ngộ vạn pháp giai không, tịch diệt, vô sinh, niết bàn, bổn tánh … Vì chỉ hiểu Tính không hay Duyên khởi hay Phật giáo trên bình diện khoa học, triết học, đạo học… mà không thâm nhập thực tại nên vẫn cứ là những nhận thức kèm theo tu luyện tiếp tục cải tiến vọng niệm để phá bỏ vọng niệm. Nếu thấu hiểu một điều duy nhất theo như cái bảng chỉ đường “Tính không”. “Duyên khởi” … ắt sẽ “thấy” Thực Tại của một điều duy nhất cũng là tất cả mọi điều mọi vật, mọi không gian thời gian, mọi tục đế chân đế,… mở toang nơi Thực Tại mà chúng ta không ngờ là chúng ta chẳng can hệ gì đến tu chứng hay chẳng tu chứng. Sẽ thoát khỏi giấc mộng, vô minh, sinh tử ..,khi chúng ta thực sự thấu hiểu chúng từ đâu đến và đi về đâu tức là thấu triệt căn tính của chúng sẽ làm sụp đổ chúng như người ta bừng tỉnh sự lầm nhận sợi dây là con rắn, thế thôi !

Tự do Tự tại ở dưới gót chân bạn, chỉ vì bạn chẳng biết nắm lấy cái “Thực” ngoài mọi tiến trình sinh diệt của tâm cảnh tương sanh, chủng tử hiện hành huân tập cùng các thứ đại loại như thế chẳng có cơ man nào kể xiết và cũng chẳng thể thoát khỏi vòng tục lụy khi không thấu hiểu trọn vẹn cái rừng tri kiến cát đằng này ! Xin lập lại một lần nữa, “biết tức ly và ly tức giác”, nhưng cũng chẳng phải dừng lại ở đó mà cái “biết” cái “ly” cái “giác” này cũng phải nhảy qua để thực chứng cái “không ai biết được y” đó. Đây là “y” thì nói gì biết hay không biết! Nơi sinh tử mà ngộ cái vô sinh, nơi phiền não mà chứng Bồ đề, nơi Tự tánh chân như mà hóa độ muôn duyên, chư Phật hằng hà sa số du hí thần thông giáo hóa mà vẫn chẳng lìa niết bàn, Bồ tát phá lập một thế giới mà chúng sinh nơi thế giới ấy không hay không biết, Ta thành Phật từ vô thủy mà nay thị hiện thành Phật, 3 A tăng kỳ tu chứng mà chỉ là một nhất niệm chuyển y, vũ trụ méo tròn rộng hẹp v.v… và v.v… Bao bí mật kinh luận cùng vô số vũ trụ tâm cảnh không gì chẳng được khám phá, như búp hoa sen nở viên mãn một cách tự nhiên như nhiên mà trước khi sen thành búp (ngộ) làm này làm nọ, tu đây luyện kia, tìm đông chạy tây, lời lẽ um tùm thực chẳng dính dáng. Cái vô minh dù có khắp pháp giới cũng chẳng can hệ đến pháp giới tính không duyên khởi vô ngã vô pháp, vô sanh vô diệt, vô khứ vô lai, vô vi vô tướng, vô đắc diệc vô đắc, bất khả tư nghì bất khả thuyết, tức thuyết : “Như thị ! Như thị !

Nói tóm, tất cả vũ trụ, tất cả tri kiến cùng tạo tác của các cõi nhơn thiên … thuộc tâm thuộc cảnh đều không ngoài Tính Không Duyên Khởi. Duyên Khởi Tính Không như cái phi thời gian bao trùm mọi mọi thời gian một cách tự tại tự như và khi thấu hiểu điều này mà không bằng ý niệm thì sẽ thoát ly mọi ràng buộc của tri kiến và tạo tác trong bất cứ thời gian nào. Nó có thể tạo lập tứ cú, bách phi … mà đồng thời không dính dáng gì đến bách phi, tứ cú. Cho nên nó là triết học, khoa học, đạo học … của mọi mọi triết học, khoa học, đạo học. Vì tính cách bất biến tùy duyên và tùy duyên bất biến của Duyên Khởi Tính Không làm cho tất cả tạo tác và tri kiến ở bất cứ nơi đâu cũng thành sống động linh hoạt mà vô nhiễm vô y, nó là cơ sở của mọi cơ sở vì nó không trụ trước trong bất cứ cơ sở nào. Nhất thiết trí và nhất thiết chủng trí cùng tất cả thần lực của chư Phật chư Bồ tát cũng như nghiệp lực của chư chúng sanh chúng tử đặt nền tảng trên cái “không” tức Duyên Khởi Vô Ngã (trùng trùng – tương tức tương nhập) này ! Chúng sinh chúng tử sẽ xóa bỏ mọi ràng buộc bởi vô minh vì ý thức triệt để cái căn tính tự tính vô tự tính của vạn pháp. Và như thế, Nhất Tâm là điều bắt đầu và cuối cùng của mọi sự vì Nhất Tâm không có đầu cuối … mà cuộc Đùa Vui Viên Mãn của Pháp giới sự sự Vô Ngại vậy ! Tự tính không tịch (bất biến) mà tùy duyên (sáng tạo) mọi mọi vô thường vô ngã mà không có kẻ không có cái gì được gọi là thuộc tính, phẩm tính, bản tính cả. Cái toàn diện thì không trong không ngoài, không có một tâm điểm. Do đó khi giải quyết một vấn đề gì thì phải xem xét trọn vẹn bằng tất cả ý thức, tiềm thức, vô thức của vấn đề tức là đem mọi thức tình tâm tính ra ngoài ánh sáng giác ngộ thì đột nhiên có sự giải thoát khỏi vấn đề (một vấn đề tức tất cả vấn đề dù thô hay tế). Tà tư duy hay sự suy tư nhiều chiều hay một chiều sẽ khởi sự cho khổ đau và tàn phá. Chánh kiến chỉ có thể phát hiện khi có cái nhìn toàn diện, không theo cảm thức, tri giác, tư tưởng, tín ngưỡng, học vấn, kinh nghiệm … nào. Và như vậy vấn đề sinh tử sẽ được vỡ tung như một ảo ảnh để cho cái chánh niệm tái hiện đầy đủ như mười danh hiệu Phật một cách toàn mãn hàm dung nhiếp thọ khắp pháp giới chứ không còn nằm trong tướng khái niệm về một thần tượng ! Và khi có sự chuyển hóa tâm thức triệt để thì chánh định là lục thông, thập lực, trí hạnh nguyện cụ túc. Bất sinh bất tử không lìa sinh tử mà có, cũng chẳng phải sinh tử, cũng chẳng phải không sinh tử. Như thực sinh, như thực tử ngoài mọi tri kiến ngã tướng nên gọi là bất sinh bất tử. Sinh tử tịch diệt!!!

Vì vô ngã nên có thọ báo sinh tử, vì vô ngã nên mới chứng đắc Niết Bàn. Nếu là “ngã” thì không có đến đi, còn mất, thiện ác, mê ngộ … Với Trí Huệ Như Thực nói ngã cũng chơn mà nói vô ngã cũng chánh. Còn vọng tâm tình thức làm gì đi nữa cũng là lấy đây bỏ kia chẳng bao giờ thực sự giác ngộ giải thoát. Cũng thế từ cảm giác sơ khai cho đến tri thức tuyệt đối chỉ là một cái Biết duy nhất bao hàm, xuyên suốt, siêu việt vạn pháp. Khi chưa “biết” mê thì “biết” làm ăn buôn bán chạy đua thi đấu nắm lấy bỏ lấy vũ trụ bên ngoài mình qua 6 quan năng, đến khi vô thường đến mới sực tỉnh mà “biết” mình mê lầm bèn quay lại bên trong tâm thức mà kiếm tìm sự an lạc hạnh phúc. Cho tới khi ngộ thì liền “biết” ngộ, thoát khỏi mọi tri kiến nghi lầm. Pháp giới chân như chẳng phải một, chẳng phải khác, chẳng phải sinh, chẳng phải diệt, chẳng phải thực, chẳng phải hư, chẳng phải vũ trụ chẳng phải không vũ trụ, chẳng phải chúng sanh, chẳng phải không chúng sanh v.v… cho đến chẳng có Phật nhập Niết Bàn, chẳng có Niết bàn để chúng sinh tìm kiếm chứng đắc … vì sinh tử tịch diệt vậy !!!

Nếu không xem xét một niệm vô ngã trùm khắp pháp giới này thì vấn đề sinh tử sẽ không được khám phá, vấn đề ngã, pháp không được tiêu dung vô ngại, vấn đề bản thể và cứu cánh, nhận thức, phương pháp sẽ không chân chánh. Bởi một niệm vô tâm vô sanh vô tướng này là thể là tướng là dụng của vạn pháp. Ngộ cũng một niệm này mà mê cũng một niệm này, sinh tử cũng một niệm này mà niết bàn cũng một niệm vô ngã vô nhơn vô chúng sinh vô thọ giả này mà thôi. Thường thì chúng ta không khảo sát tường tận một niệm vốn không tịch diệu dụng hằng sa này mà cho rằng có cái ngã nào đó đang lưu chuyển trong sinh tử hoặc đang an trụ trong niết bàn. Nhưng cái ngã đó chỉ là một niệm vô ngã vô sanh vô tướng biểu hiện tất cả tướng mà vẫn tịch diệt, như như. Bằng vào chánh trí (một niệm vô tâm) mà thấy biết như thực như thế chớ chẳng phải do vọng tưởng phân biệt chấp trước vào tiền niệm thành kiến định kiến ảo giác kinh nghiệm tư tưởng ngôn ngữ mà ra. Nếu khám phá một niệm vô niệm vô sanh vô tướng vô ngã này tức là đã thấy biết “đốm lửa” chẳng phải vòng tròn lửa, vòng tròn lửa là duyên sinh không tính và đốm lửa cũng chỉ là không tính duyên sinh, tất cả ngã pháp hình thành nên vũ trụ thân tâm cùng pháp giới tịch diệt chỉ một chân không diệu hữu chẳng đến chẳng đi chẳng sanh chẳng diệt … Một niệm trước chính là một niệm sau đó, nhưng niệm trước đã chẳng phải là niệm trước (duyên sinh vô ngã) và niệm sau cũng chẳng phải là niệm sau cho đến sự tương sanh tương diệt của chúng cũng chẳng phải là tương tục tướng thì bổn lai của một niệm vô thủy vô chung này vối là chân tính, như tính, pháp tính duyên khởi vô sanh vô diệt trùm khắp vi trần cho đến vô số vũ trụ mà tìm kiếm một chút pháp một chút ngã đều bất khả đắc như Pháp giới tính vô sở đắc. Do đó, khắp tam giới cho đến trong và ngoài tam giới cái mà sinh tử cho đến không sinh không tử đều tịch diệt !!! Nếu không liễu ngộ điều ấy thì khi một niệm sân sẽ phiền não, khi một niệm không sân sẽ được an lạc … tự đắp đổi nhau mà chân tính của một niệm vô sinh bất tử chẳng can hệ đến sinh tử, niết bàn. Nói tóm, thấu suốt (đập nát) một niệm này liền chứng Pháp thân viên mãn báo thân diệu lạc hóa thân vô lượng vô biên vô sở trụ. Một niệm này được sáng tỏ, là giải thoát. Một niệm bất giác liền là tam giới như nhà lửa. Từ đó, mọi giới định huệ, mọi ngũ trược ác thế, mọi thường lạc ngã tịnh, mọi tứ thánh lục phàm, mọi hệ thống thấp cao thô tế gần xa mau chậm … mọi vũ trụ hữu hạn hay vô biên, mọi Như Lai khi nhập diệt là còn hay là mất, mọi Thượng đế là có hay là không … cho đến những vấn đề nhỏ nhoi trong cuộc sông con người như thiên tai, hòa bình, chiến tranh, thịnh trị, đói đau, ăn ở … không chi là không thấy biết như thực. Và chính cái thấy biết như thực đó sẽ giải thoát tất cả mọi khổ nạn trong cuộc đời mê ngủ sau một cuộc hy hữu tỉnh thức từ vạn pháp Như Thị Sinh Như Thị tử này ! Khắp pháp giới mười phương ba đời chỉ là một niệm chân như tịch diệt thì chứng mà chưa từng chứng, ngộ mà chưa từng ngộ, liễu mà chưa từng liễu, tri mà chưa từng tri vì Nhất vị Niết bàn vậy ! OM ! A ! HÙM!

Rong chơi trong Biển Giác
Ẩn hiện bóng hình Ai
Gậy Thiền soi Ba cõi
Pháp pháp là Như Lai.

Tứ đế, thập nhị nhơn duyên, thập độ vạn hạnh, thần thông tam muội … duyên khởi không tự tánh. Không tự tánh duyên khởi là thực tướng vô tướng của các pháp. Do đó các pháp bình đẳng với thực tướng tánh không duyên khởi. Nơi Thực tướng tính không chẳng phải chơn đế, tục đế … mà duyên khởi thế gian, xuất thế gian cho đến khắp Phật pháp không gì chẳng đủ, không gì chẳng chơn, không gì chẳng tịnh, không gì chẳng tùy duyên bất biến, bất biến tức tùy duyên. Phật đạo chỉ là con đường chứng ngộ Tự tánh không tịch, Tự tánh vô y, Tự tánh viên mãn, Tự tánh thanh tịnh tâm duyên khởi niết bàn. Chỉ đừng nhận lầm vọng tâm tự tác tự thọ, tự sinh tự diệt mà trực chỉ bản lai của vọng tâm vô tánh là được. Tất cả chỉ là “Trường sở trụ” biểu hiện không trong không ngoài, không sau không trước, không tâm không vật, không uế không phải không uế… mà đầy đủ trong ngoài, thiện ác, chơn vọng … Nếu lấy Tánh không thôi, thì dễ rơi vào Hư vô luận, còn nếu nhận Duyên khởi thì lại kẹt vào Hữu thể luận, cần vượt qua Hữu và Vô thì là Tuyệt Đối Vô Vi. “Tôi” là một biểu hiện không tự tánh như vạn pháp không tự tánh. Sinh tử cũng như vậy. Sinh chưa từng sinh, tử chưa từng tử, vì vô sinh bất tử có gì là buộc thoát ư ? Và sân cũng như thế, không sân cũng như thế, vượt lên sân và không sân cũng như thế, không chấp thủ chỗ rỗng Tăng của sân cùng không sân cũng lại như thế ! Cho đến vạn sự muôn vật tánh tướng cũng như thế, thì còn ngại gì sinh tử với niết bàn ! Vì “tôi” duyên sinh không tự tánh, không vô tánh … nên sinh tử và niết bàn lại cũng như thế. Rốt ráo bổn lai tịch diệt, không đợi lấy bỏ, không đợi tu hay không tu mới có. Trực ngộ bổn lai tịch diệt của vạn pháp là điều vô sở đắc, vô sở đắc là bản tính như thị (tính bản nhiên tự tại vô ngại) của vạn pháp, nên đắc mà vẫn “không”, “không” mà lại diệu viên, vượt ngoài mọi thể nghiệm, thực nghiệm. Qua bên kia bờ Tuyệt đối thì cái vẻ tương đối tương quan của vạn pháp lại là Như Như. Như Như bất khả đắc. Nhưng không dễ gì vượt qua tương đối mọi mọi tương quan tan hợp cho được, trừ khi chết đi với mọi góc độ chấp thủ thấy biết của tự ngã thì mới có cơ hội siêu việt, sống lại với mọi mọi duyên sinh duyên diệt mà vẫn như như bất động. Còn không thì chỉ là kẹt trong thức biến, vô thường hoặc bám trụ vào niết bàn giả danh, Thượng đế hư ngụy phóng chiếu từ vọng tâm (ngã tướng) mà cho là thấy Tánh. Tánh không thể thấy, không thể không thấy, bất biến tùy duyên nói không hết !

Chân lý thì không thuộc về ai, nếu nó thuộc về ai hay một đặc ân nào đó cho một số người nào thì chỉ là chân lý hư vọng, do nhân duyên tạo tác mà thành. Cái gì có tạo tác thì ắt có thọ nhận, phải vô thường, sinh diệt, khổ đau. Chân lý “có đó” không bắt đầu, không cuối cùng, dù mê chân lý này thì nó vẫn thế, ngộ chân lý này thì nó vẫn thế, chẳng thêm chẳng bớt. Mọi góc độ sở đắc, “nhìn thấy” Nó đều phù phiếm và biến chân lý thành vô biên mảnh vụn. Không đứng ở đâu thì là Nó, vì Nó ở khắp nơi và thời mà Nó chẳng phải không gian và thời gian. Tuy nhiên như vậy nó không loại trừ mọi “góc nhìn”. Như viên kim cương phân từng mảng 1 mảnh (diệu) cũng chỉ là kim cương (minh). Không có cái này thì không có cái kia, hết thảy tương quan linh động dung nhiếp, không sinh, vô ngại, bất nhị. Không có ngôn ngữ, tư duy nào diễn đạt được về Nó, nhưng nó có thể tư duy luận bàn biểu hiện hết thảy mọi thứ về Nó. Cho nên chưa phải là người thực chứng chân lý (Phật) thì mọi thi vi tạo tác (Pháp) đều như người mù sờ voi. Người mù sờ voi thì hết thảy đều đúng cũng là hết thảy đều sai, nhưng không phải là voi. Nếu là voi thì không thể chỉ bày được, nhưng không từ voi thì không thể khai thị, và voi mất tăm trong những xao động của người mù. Bổn lai bất nhị (thể) sao lại có hai (tướng), bởi vì có hai, nên gọi bất nhị (dụng)! Giác cùng bất giác, ngã cùng vô ngã, pháp cùng vô pháp không hai, cũng chẳng nhiều, chẳng một … Cái cây vốn viên mãn, chỉ vì không thấu hiểu sự thực của cây mà lầm cho có gốc sinh ngọn, ngọn lại nuôi gốc, tạo nên sự hài hòa dung thoát giả tạm. Đó là cái thấy lầm. Nhưng nếu không có cái thấy lầm này, thì chân lý không có lý do để biểu hiện. Suốt xưa nay đều là chân lý, lại đi tìm chân lý, nên những bóng ảnh của tâm cảnh tương quan từ đó có vẻ như sinh như diệt, và mọi thấy biết về sự sinh diệt này để mang lại những triết lý, đạo lý, nghệ thuật, khoa học … cũng sinh diệt như vậy. Sự đi tìm chân lý bắt nguồn từ vô minh, nên cái chân lý mà vô minh tìm được là ảo tưởng về chân lý. Cho nên mọi con đường đi vào bế tắc, dù chúng có vẻ thỏa mãn, thỏa đáng trong vài sát na hay vài – chục – hơn – thế – tỷ – kiếp. Như phóng lao thì phải theo lao, vô minh phải đi tận cùng biên độ của nó, rồi nó tự chết đi trong chính nó (đại sự nhơn duyên) và chân lý sống lại, như chưa từng sinh ra. Giấc mộng Như Huyễn bây giờ phô bày bộ mặt xưa kia “vốn là”. Cái hư vọng thì có mất có còn, nhưng cái “sự thực” thì vẫn “như thị”, cho nên nói người ngộ thì chân tâm thường trụ như “sự thực” vốn thường trụ như thị. Và như vậy nó chẳng phải thường còn chẳng đoạn diệt, chẳng từ trời cao bay xuống, chẳng từ dưới đất vọt lên, mà từ sự khám phá toàn diện, triệt để cái ngu si tăm tối mờ tỏ của mình mà chân lý có thể khai thị ngộ nhập. Người mê không biết mê thì chư Phật ba đời cũng không lay cho nó tỉnh được. Cho nên Phật chỉ cái mê và người chỉ cần biết mê (tưởng có hai: chơn và Vọng chân lý và phi chân …) thì cái ngộ “ở đó” và không còn gì để nói về :
– Chân lý là gì ?
– Ông nói cái gì ?
– Chân lý là gì ?
– Tôi đâu phải điếc !

Khi thì Nó ở đây khi thì Nó ở kia khi thì Nó không ở chỗ nào cả.

Nó biết hết thảy mà không biết gì cả. Nó biết một cái mà không cái gì chẳng biết. Niềm vui cũng vậy !

Nó không loại trừ cái gì cả. Ngay cả phi chân lý. Vô minh loại trừ chính vô minh, nhưng Nó thì chẳng vô minh chẳng phải không vô minh. Nó không vui cũng không buồn và cũng chẳng có cái “không” nào ở đó cả.


Hết thảy bị quy định từ cái thấy hư vọng, lại sinh phiền não niết bàn. Nó không thấy cái gì cả, phiền não cũng như niết bàn, vì Nó không bị quy định bởi hư vọng hay muốn vượt qua cái gì. Nó thấp hơn địa ngục và cao hơn thiên đường, Nó không phải là Như huyễn (địa ngục thiên đường cảnh giới tư kiến) nhưng chẳng lìa Như huyễn mà vạn pháp có thể. Do đó Nó không là nền tảng cho cái gì, cũng chẳng phải không nền tảng. Nó chẳng bao giờ ly biệt, và cũng không ai gặp gỡ Nó được. Nó không có mặt, cũng không vắng mặt, “không” mà đầy đủ, đầy đủ mà vẫn “không”. Nó không “ở đây và bây giờ”, và nó cũng không có trụ xứ trong vô thủy vô chung. Nó không phải là tâm thức, nhưng mọi tâm thức (chơn, vọng) nhờ Nó được Nên.

Nó là thần thông diệu dụng trùm khắp pháp giới, nhưng Nó không hề tạo tác, cũng không phải vô tác. Nó chấm dứt mọi con đường đồng thời cũng khai mở vô giới hạn. Nó là Trung Đạo, nhưng không phải ở giữa hai bên, vì hai bên không hề thực có. Nhưng cái không thực có thì vẫn có nhưng ít ai biết đến. Nó không thể phân chia, do đó không có ô nhiễm hay không ô nhiễm.

Nó là gì thì không thể biết, nhưng không thể biết lại cùng Nó tương ưng theo cách điệu song trùng nhị bội. Nó không phải là bất khả tri luận. Vì mọi tri luận không lìa Nó mà được.

Cái Biết thì ai cũng có nhưng ít người biết Nó. Nếu biết Nó thì chẳng phải Nó rồi. Nó siêu quá không gian vô tận và thời gian vô cùng, nên thời gian và không gian (tâm thức) không thể biết Nó. Bởi vì Nó là Vô Biên nên không ngại cái hữu cùng (sinh diệt), cái hữu cùng gặp (Ngộ) Nó thì tan vỡ.

Nó là Hiện tượng cũng là Bản thể, Nó quấn quít nhau mà không phải hai, chẳng chuyển động hay bất động, làm nên Đại Trí Đại Từ của chư Như Lai. Và cũng là trường sở khám phá và sáng tạo bất tận của chư chúng sinh chúng tử. Hết thảy Như Huyễn là Trò Đùa chân thật viên mãn không có biên giới giữa người đùa, trò đùa và cách chơi. Nó “ở đó”!

Tìm Nó thì chẳng gặp, không tìm Nó cũng chẳng gặp. Nhưng khi gặp Nó thì chấm dứt cả hai. Nó vốn vậy, dù mê hay đã tỉnh, vì Nó chẳng mê bao giờ !

Nó là hết thảy tri kiến, cảnh giới môn … nhưng Nó không là tri kiến,… bởi Nó không hề dính mắc cũng chẳng không dính mắc.

Làm thế nào để có sự kết hợp giữa thân tâm và cảnh giới? Không có làm gì cả, bởi vì không có sự kết hợp, đồng nhất nào. Vì “sắc” ở đâu thì “không” ở đó, bất sinh bất diệt!… Sự phân chia mê lầm, nên tạo ra sự thấy biết cùng tạo tác mê lầm … và sinh khổ đau từ mê lầm. Nhưng mê lầm vốn là tự ý thức (đối tượng hóa), cũng cần thiết như mọi mọi mỗi mỗi con con cái cái… Không chân lý thì lấy gì vọng, không vọng thì lấy chi chân, vọng chân như huyễn hóa…

Nó không có gì mầu nhiệm, bí mật… vì Nó luôn luôn “Phơi Mở” cho mọi kẻ mỗi con khám phá và sáng tạo. Sự khám phá sáng tạo của mọi kẻ mỗi con lại là cái “Mở Phơi” toàn diện. Chạm đâu trúng đó, chỗ chỗ đều là “Phải”, là Nó đấy ! Chớ có nghi ngờ, vì nghi ngờ cũng là Nó nữa; mà Nó thì chẳng nghi ngờ chi. Nó vốn là Đại Giải Thoát, Tự Thân Tự Thể là Niết Bàn, niềm vui nỗi khổ của chúng sinh như sương khói trên mặt hồ thơ thẩn nọ. Chút mây trời để “biết” có hư không, và biết chút hư không để biết có mây trời … đều là Tướng Trạng của Nó cả !

Bạn không thể ghét phàm mến thánh, bạn cũng không thể bỏ thánh lấy phàm. Vì phàm thánh, lấy bỏ, thương ghét… đều là những danh tự, cảm giác, trạng thái… vụt đến vụt đi không dấu tích. Nó không dấu tích ! Bạn làm gì thì cũng là Nó cả, nhưng Nó không có bạn!


Nó không sinh ra vạn pháp, cũng không tiêu diệt vạn pháp. Nó vô sinh nên cũng vô diệt. Không gì có thể làm cho Nó mê, ngộ được. Vạn pháp cũng vậy. Sinh diệt chỉ là bóng ảnh của vạn pháp về vạn pháp. Do đó, không thể dẹp vọng hay chuyển vọng … để thành chơn. Nếu quả là chơn thì chẳng sinh vọng. Nếu có vọng, thì vọng chẳng thể về chơn. Nó không phải chơn không phải vọng. Vì không liễu nghĩa “chẳng thực chẳng hư” nên chẳng thấy “chư pháp như nghĩa”.

Vì tự ý thức (điều kiện hóa, khái niệm hóa) nên mới có thấy có chẳng thấy. Nếu không thì thấy cái gì, cái gì thấy. Biết như vậy thì phân cũng được, không phân cũng được.

Đại Lạc là Nó, nếu bất như ý là do bạn muốn là Nó, nên dù bạn có làm gì, được gì… cũng bất mãn. Trừ khi bạn chính là Nó, Niết Bàn, Quang minh hải. Đạo lý vô tâm thật dễ tầm !

Vô thường hiển lộ chân không, vô ngã xuất hiện diệu hữu, Chân Không Diệu Hữu Như Là !

Ít khi bạn thấy nghe hay biết một cách trong suốt. Do vậy, từ cái nhìn thấm đẫm tư duy, kinh nghiệm, tri thức … mà “cái không là gì cả” thành tất cả mọi sự đa đoan … Nhưng bạn chẳng phải làm gì cả, bạn chỉ cần “biết” là bạn đang đứng trong tình thức mà nhìn, bạn sẽ không bị dính mắc trong đó, và bạn tự do thay đổi mọi cách thế nhìn về. Bạn có tất cả, ngay cả cái bản ngã của bạn, nhưng bạn có thể tự do với chúng hay không mà thôi. Bạn đừng hỏi làm sao để Tự Do Giải Thoát, vì Nó ở ngay dưới gót chân bạn rồi !

Bạn luôn luôn chạy trốn chính bạn, chạy trốn cái “đang là” ưu phiền hay hân hỷ và ngay cả Tự do mà bạn truy tìm. Bạn trực ngộ cái “đang là” của bạn, thì cái “đang là” không còn nữa, Nó chỉ là cái Diệu hữu chân không mà dù bạn biết tới hay không biết tới Nó vẫn Như Vậy rồi.

Tâm và cảnh “tự không” do duyên (cũng không tự hữu) mà hiện bóng trăng trong nước. Người Trí biết được có còn đòi vớt trăng nào nữa chăng ? Nơi nhận thức tuyệt đối không có ràng buộc hay giải thoát, vì vô tướng niệm, không từ đâu đến đâu cả, không có phương tiện để đạt đến cứu cánh nào cả. Vì ngay nơi cười khóc động tịnh đều cụ túc viên minh rồi. Ngộ hay chẳng ngộ là ngón tay. Mặt trăng, nếu có từ ngón tay khai thị, cũng chỉ là bóng trăng mà thôi. Khi biết sự thực này, mới thấy chẳng phải từ Kinh, chẳng phải do hành…

Nó thì không ai đắc cũng chẳng phải vô sở đắc. Hết thảy đều “Như” không pháp thuyết trình nhau.

Và hết thảy cũng chỉ là “bóng ảnh”, nên giả sinh giả diệt, người ngộ Như Huyễn Tính gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như Như Bất Động !

Cho nên người chứng chân lý thì gọi là Thường Trụ như chân như chân lý, và như vậy cái chân tâm thường trụ đó chẳng phải có (đối với chúng sinh mê) chẳng phải không (đối với chư Phật). Xưa nay một chân thật, lẽ nào bạn đánh mất, thực ra bạn không mất, chỉ là một chân thật !

Cái mà tất cả mọi loài đều “sẵn có” đó là Tâm Thức. Nó là “sự vật” eo óc gay cấn nhất trong ba thời. Vừa là hữu hình vừa là vô hình, mà chẳng hữu chẳng vô … Nếu không có nó thì thân tâm và thế giới chẳng có, phàm thánh chẳng có, trời xanh đất đỏ chẳng có, … Tuy vậy nó chẳng có ngã tính, thực tính chi cả. Hễ có thì nó liền có, không thì nó liền không, ngu si cũng nó mà trí huệ cũng nó, chẳng gì qua khỏi nó. Vậy mà nó không là gì cả, nên nó có thể là thế này hay có thể là cái kia … Do đó, nếu chẳng thấu hiểu trọn vẹn tâm thức và ngay sự. Thấu hiểu trong ngoài trước sau về nó cũng đều là tâm thức, thì bạn sẽ chẳng bao giờ thực sự Tự do với nó. Cho nên nói vì không biết một niệm khởi lên (nhân duyên sinh, không tính, giả danh, trung đạo) mà sum la vạn tượng mờ mịt ! Cũng nói, giác ngộ liền giải thoát là chỗ này đây. Quán sát hành tung của nó, bạn sẽ thấy nó không có trụ xứ nhất định, và ngay sự quán sát và cái tâm quán sát cũng không thể nắm bắt (bát bất), bạn tự ngộ tâm thức (cũng là vạn pháp) vốn rỗng sáng, thanh tịnh diệu dụng không lường. Hết thảy vũ trụ sinh tử, khổ vui, uế tịnh… đều là trạng thái, cảm giác, nhận định, tri kiến của nó. Hết thảy hạnh môn, trí môn, nguyện môn … chân như môn, sinh diệt môn … đều là nó cả. Và vì vậy, thực tướng của nó là “Chơn không Diệu hữu Niết bàn” !

Vậy bạn là ai ? Cái gì làm nên tất cả mọi sự, ngay cả hư vô (tuyệt đối không có gì cả) ? Mọi câu hỏi mà con người xưa nay cho tới vị lai bất tận đều có thể đặt ra bạn đều thấu hiểu trọn vẹn trong “nhất niệm”, “nhất xứ”, “nhất thời” … Tuy vậy, không ai chỉ cho bạn biết là cái gì trừ khi bạn khám phá ! Cũng thế, Niết bàn, chân lý … không thể là cái mà bạn tìm kiếm được, và dù bạn có thể đi khắp thế gian để phủ định và khẳng định mọi thứ, nhưng tuyệt nhiên không thề thấy Nó. Đạo không thể chứng tận chẳng thể truyền. Bởi vì không đâu chẳng phải Nó. Chớ bảo trời cao đất thấp là Đạo. Tuy nhiên lìa nó chẳng phải y.

Có một chỉ dẫn khi Đức Phật chưa thành Đạo mà ai cũng biết, đó là việc thả bình bát trôi ngược dòng sông. Ý nghĩa của nó là gì ? Phải chăng “thế gian” nằm trong những suy tư có điều kiện, thấy nghe hay biết, tham sân si…trong điều kiện ? Cái gì có điều kiện đều hạn lượng và huyễn loạn. Tuy nhiên tự tính của hạn lượng này là vô hạn lượng. Bình bát trôi ngược dòng sông đòi hỏi người suy tư và cái suy tư duyên khởi tánh không thì “Thực Tại” không phải là không thể khai thị và không phải là không thể chứng đắc. Ngôn ngữ đạo đoạn, nhưng ngôn ngữ cũng thần thông diệu dụng như chính tư tưởng, tâm thức và bất cứ cái gì bạn vớ được. Bạn chẳng đi về đâu vì bạn không đến từ bất cứ nơi đâu, bạn là cái bạn Là ! Không Tướng bất sanh …

Buông ra thì trùm khắp pháp giới. Nắm lấy thì không một vật có thể được. Chẳng buông chẳng nắm thì sao ??

Bậc Đại Trí không làm gì cả nhưng không gì chẳng làm vì Đại Trí vậy ! Nếu bạn “sống” với (bạn là) tâm đầu tiên cũng là cuối cùng, hay ý thức thuần túy, nhận thức tuyệt đối (thanh tịnh sáng suốt linh hoạt), cái biết không thủ xả … thì nhân quả (địa ngục thiên đường) chẳng làm gì được bạn. Hết thảy sinh tử chẳng lìa mà tự lìa ! Bạn có thể rong chơi trong tam giới mà hóa hiện vô lượng cảnh giới môn tùy thích ! Như người huyễn làm các trò huyễn, vì tâm cảnh nhất như vậy ! Sáu căn, sáu trần, sáu thức duyên khởi tánh không, thấy nghe hay biết rỗng lặng, bạn còn thiếu thứ gì ! Đạo thì giản dị vô cùng, ngay đây đầy đủ, bạn đi tìm hạnh phúc nên mọi sự thành phức tạp. Ngộ Đạo thì đâu chẳng phải Nó. Muốn thấu hiểu bản chất của cái bị đối tượng hóa (chủ khách) cũng là cái bị điều kiện hóa (định kiến, khái niệm, hình ảnh, tâm tướng …) chỉ là biết lỗi lầm của sự phân chia thì mọi sự mọi vật là Pháp thân trùm khắp.

Khi cái sinh diệt được nhìn thấy và thấu triệt, thì tiêu mất như một giấc mộng. Và cái không sinh không diệt cũng không còn. Tùy duyên vô ngại. Chẳng phải có lời, chẳng phải không lời. Tuyệt đối không có vấn đề nào cả. Hết thảy vấn đề đều là sự tạo tác của tâm làm nên cái thấy hư vọng, tùy chỗ hư vọng mà sinh sai biệt trong có và không có. “Nếu cái thấy là cây, thì cây không còn ! Đó là thể tính của chân lý.

Chú thích quan trọng : “Biết” vọng tưởng mê lầm thì liền là chơn, là Niết Bàn thanh tịnh, chúng sinh là Phật, Pháp bổn vô pháp … Cái Biết đó là gì ? Đó là sự thiền quán sâu xa về vạn pháp duyên khởi Tánh Không và ngược lại, cũng tức là Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát Nhã Ba la mật chứng ngộ không tướng bất sinh bất diệt … vậy ! Nếu không thì mê vọng vẫn tiếp tục trong tam giới… Như thế đó, mới nói “Sinh tử niết bàn như giấc mộng đêm qua ! Và cũng như thế đó, tất cả hiện tượng, tri kiến … đều Tịch Diệt !!!
– Vì sao có cái “Khổ” ?
– Sinh lão bệnh tử !
– Vì sao có Niết bàn ?
– Sinh lão bệnh tử !
– Vì sao có vũ trụ, thân, tâm và các cảnh giới sai biệt?
– Sinh lão bệnh tử !
– Vì sao có chư Phật, pháp và các cấp độ tâm thức ?
– Sinh lão bệnh tử !
– Bổn lai thanh tịnh sao lại có vô minh, phiền não ?
– Sinh lão bệnh tử !
– Hết thảy sinh lão bệnh tử là phải chăng ?
– Sinh lão bệnh tử !
– Mọi câu hỏi đều do tâm mà phát khởi và cũng do tâm mà đáp … đều là sinh lão bệnh tử ư ?
– Sinh lão bệnh tử !
– Sinh lão bệnh tử là gì ? Và vì sao ? Làm sao ? Để làm gì có nó?
Im lặng rồi nói:
– Vừa đáp xong!

– Đạo lý vô tâm là gì ?
– Hết thảy không có tự tính, ngã tính, khách tính …
– Nếu vậy, thì vạn sự vạn vật trôi nổi bất định vô cùng tận ư!
– Vì vô tâm nên mọi sự mọi vật đều chẳng đến chẳng đi chẳng dừng trụ … Tâm – như – thị – pháp – như – thị!
– Nếu chẳng đến chẳng đi chẳng dừng trụ … thì tại sao có sai khác giữa sinh tử và niết bàn, chư Phật và chúng sinh, hữu vi và vô vi… ?
– Chẳng khác cũng không phải là chẳng khác. Vì vô tâm vậy.
– Đã vô tâm thì ai biết cái gì biết … điều này, điều nọ…
– Biết tức vô tâm. Nếu chẳng vô tâm thì chẳng thể biết được. Biết cùng bị biết và cái gì biết chẳng khác.
– Trước sau, trên dưới… rốt cuộc chỉ là “Một”.
– Chẳng phải Một ! Chớ chạy theo nhơn duyên (điều kiện), giả danh (ý niệm)…
– Chớ chạy theo ? Vì sao ?
– Vì giả danh, vì nhân duyên, vì vô tâm đó !
– Sao gọi là Trung Đạo ?
– Chẳng có con đường nào cả. Chẳng khởi chẳng diệt, phương tiện cứu cánh đều “không”, vì vô tâm vậy.
– Vậy sao có tu chứng và không tu chứng
– Vì thực tướng vô tính, nên vạn pháp thành, cũng chẳng có tướng vạn pháp thành ! Vì thực tính vô tướng vậy.
– Nếu hết thảy đều vô tâm, thì làm thiện làm ác … đều bình đẳng, đều chẳng có tác dụng gì ?
– Vì vô tâm nên làm thiện thì được thiện, làm ác thì chịu ác… cho đến sinh tử niết bàn cũng vậy. Đã vô tâm thì không tạo tác, người không tạo tác thì vô sanh vô diệt, bởi sao, vì hết thảy Như Huyễn nên không tạo tác, và vì không tạo tác cũng như tạo tác đều là Như Huyễn Tính.
– Đạo lý này khó nắm bắt !
– Nếu nắm bắt được thì lầm, không nắm bắt được thì mê.
– Làm sao thoát khỏi mê lầm ?
– Thoát khỏi cũng mê lầm mà không thoát khỏi cũng mê lầm, vì tạo tác vậy, tức có đôi tính, nhưng đối tính, mê lầm hay không mê lầm cùng các thứ vô số vấn đề như vậy đều không tính. Vì “không tính” nên chẳng có giải thoát không có ràng buộc! Chẳng có không giải thoát, chẳng có không ràng buộc! Do đó ông khỏi phải tìm Tâm, tìm Phật, tìm Pháp, tìm chân lý … vì hết thảy “đầy đủ” dưới gót chân ông rồi !
– Tâm như huyễn, pháp như huyễn … Ông do đâu được ?
– Như huyễn được.
– Là đắc Như huyễn ?
– Chẳng phải.
– Là ngộ tâm, chứng pháp ?
– Chẳng phải.
– Hay thay !
– Có phải hết thảy đều là chân tâm, niết bàn, trò đùa, như huyễn, không sinh tử …
– Ông chớ bôi lem Thực Tại !
– Vì sao có sự bôi lem này ? Và vì sao có thực tại ?
– Có phải đều là chấp thủ vào sự thể, vào sự thực, vào sự mê lầm, vào đối tượng hóa chính tâm, vào những khái niệm bị điều kiện hóa, vào chính sự chấp thủ v.v… ?
– Ông chớ bôi lem Thực Tại !
– Như vậy trước sau hay chẳng phải trước sau đều chẳng đổi, đều Như Tính ?
– Ông chớ bôi lem Thực Tại !
– Không thấy có bôi lem, người bôi lem, Thực Tại bị bôi lem là phải chăng ?
– Đã bảo ông chớ có bôi lem Thực Tại !
– Hay thay !

– Nếu bảo có chư Phật ba đời cùng chúng sinh trong pháp giới hay không có đều là lỗi. Người thực sự biết lỗi tức khắc là Thực Tại Chân Như Trùm Khắp không chỗ nào thời nào chẳng phải y. Phàm có pháp hay vô pháp đều là khai thị, chẳng phải Phật tri kiến. Phật tri kiến không tri kiến Phật không tri kiến chúng sinh, không tri kiến pháp, phi pháp. Nhưng không phải hư vô, hay không tri kiến, mà hết thảy tri kiến Tịch Diệt gọi là Tri Kiến Phật. Ông hiểu rồi chăng ?
– “Pháp” không đợi hiểu, không đợi chẳng hiểu.
– Ông thực sự biết lỗi !

Tâm chỉ có một nhưng không tự tính, nên Tâm của chư Phật thì vô hạn, còn tâm của chúng sinh bám nắm vào danh sắc nên phân chia từng manh mún và mỗi manh mún tác động vào tâm nở rộ rồi tan biến như những chùm pháo bông, hết sáng rồi lại tối, hết tối rồi đến sáng … Tuy vậy, chúng vẫn là Tâm không tự tính, nên hết thảy tâm của chúng sinh là Tâm Phật nhưng hết thảy Tâm Phật lại không là tâm chúng sinh. Bởi sao? Nếu không như vậy thì “Pháp” trở thành lộn xộn, trôi nổi, trườn uốn, phi chân … Bằng một cái “nhìn thấy” siêu việt nhân quả, quá hiện vị lai bất khả đắc, xuyên suốt và thần thông diệu dụng giữa cái bây giờ là cái hôm qua, giữa cái hôm qua là cái ngày mốt. Cứ vậy, đang đã sẽ xen nhau thành vô số cõi Phật như chúng vốn là Phật rồi. Nên hết thảy pháp đều hành, nhưng không một pháp có thể được, không một pháp có thể được mà hành tất cả Phật pháp. Nên công đức vô biên viên mãn của tương lai là công đức của quá khứ, công đức quá khứ là công đức của bây giờ… Chân lý thường trụ bất tăng bất giảm như thế, người ngộ chân lý tâm cũng lại như thế, chưa từng đói dù sinh tử hay niết bàn.

Hễ còn tướng lầm một cái ngã cá nhân nào thực có, độc lập, … thì phải phiêu lưu mạo hiểm trong sinh tử, nghiệp báo, hư vọng … dù có làm gì cũng vô thường. Nếu biết hết thảy đều duyên sinh vô ngã như là cái Toàn Thể Sóng Nước bất nhị, vô tận, vô lượng, bất khả thuyết, bất khả hành, bất khả tư nghị… thì ai là người sinh tử hay niết bàn, cái gì làm và làm cái gì ? Không có sự sai biệt (duyên sinh) và Toàn Thể (chân không), thì cũng không có chuyển động, tiến trình (giả danh) và cứu cánh nào (Trung đạo).

Giáo lý chỉ là sự chỉ đường cùng là vô sô phương pháp để tìm kiếm, khám phá chân lý. Nếu chấp thủ giáo pháp thì dù chân lý ngay đó cũng chẳng thể ngộ. Phải nhận thức triệt để rằng, dù có một hệ thống giáo lý tuyệt hảo nào mô tả toàn diện đời sống, vũ trụ, sinh linh thì đó cũng chỉ là ngón tay. Nhưng ngón tay là gì nếu chẳng có mặt trăng nào để chỉ. Sự thực không thuộc về những “giả thuyết” về ngón tay cho đến mặt trăng …

Khi không chấp thủ và không phân biệt vào danh tướng để phát sinh những quan niệm trái nhau, thì Tâm tính không chỉ tùy duyên vô nhiễm, vô tác. Nó không khởi thiện để đeo đuổi việc thiện, không khởi ác để đeo đuổi việc ác… cho đến khởi sinh tử niết bàn để nắm lấy hay chẳng nắm lấy.

Thực ra chỉ có một cái Biết duy nhất không có tính phân chia nào cả, trực ngộ không do lý giải, tri kiến về sự vật sự kiện … dù thô tế, lâu mau … Cái Biết đó chẳng bị tâm hay cảnh thuộc thời gian hay phi thời gian. Nó cũng chẳng can hệ gì đến cái biết lý thuyết hay thực hành v.v… Nó Biết hết thảy mọi sai biệt của pháp giới và sự bình đẳng bất nhị của pháp giới tính. Bởi Nó không tính và tùy hiện, là hai phẩm tính của nó. Bạn chẳng làm gì cả vì Phật tính (vô ngã, vô nhân, vô chúng sinh, vô thọ giả) đã – đang – sẽ làm, nghĩ, nói… ra hết thảy một cách viên mãn. Đó là ba thân của Phật cũng là của chúng sinh. Bạn không thể chạy trốn chân lý, vì bạn là chân lý, không phải thứ chân lý phát hiện từ sự ngu xuẩn hay vui buồn giả vờ nào đó. Vì vậy, bạn có thể làm bất cứ (nghĩ, nói) điều gì bạn muốn, chỉ là không thấy có “ai”. Và khi không thấy có “ai” thử hỏi bạn còn có tạo tác xấu tốt hay không xấu tốt cũng như muốn thoát khỏi nó không. Cái điều duy nhất là, Phật khám phá Pháp. Phật cũng chính là Pháp. Pháp cũng chính là Phật, hay chân lý cũng chính là cái “Biết”, là Tâm không tự tính nên duyên khởi ra vạn pháp, cũng tức Bất biến (Tính không) mà Tùy duyên (Diệu hữu), cũng là Thiền, là Ngộ, là Đạo, là Chân Như, Tự Tính Niết Bàn Thanh Tịnh, và cũng chính là chúng sinh không tướng bất sinh bất diệt. Nói lên điều này cũng là giả danh, và giả danh không đến từ ngoài, không từ trong ra cũng chẳng phải là không có nhân duyên. Nhân duyên là một đại sự : Nhất thiết pháp không !

Như vậy, pháp giới tánh không duyên khởi, hết thảy đều thành Đạo ! Niết bàn, Bản giác … chính là sự chấm dứt mê lầm, chứ không phải là chấm dứt tái sinh, hay không tái sinh. Vì nghĩa của “Dục” là sự Biểu lộ, và Niết bàn Biểu lộ viên mãn Pháp thân, Báo thân, Hóa thân cũng như hết thảy sắc thân sai biệt của chúng hữu tình lẫn vô tình. Như toàn thể con voi chỉ là voi, dù là vòi hay đuôi vẫn là voi, chỉ vì nhận vòi làm voi nên có vẻ bất mãn, nhưng đó chỉ là lầm, nhưng lầm cũng chẳng lìa ngộ.

– Sao bảo rằng “Hết thảy là Đạo” ? Chư Phật ba đời đều tu hành khổ cực lâu xa mới ngộ Đạo, nay không đợi tu mà được sao ?
– Ông chỉ thấy sinh thành hoại diệt của danh sắc mà không thấy Đạo không sinh thành hoại diệt của danh sắc. Chư Phật ba đời chỉ thấy Đạo là xong việc sinh tử đại sự, mới biết sáng nghe Đạo chiều chết cũng vui. Tất cả chúng sinh tu hành hay không tu hành, chư Phật ba đời có hóa độ hay không hóa độ đều là Đạo đang thành, tuy danh tướng có sai biệt mà bản tính lại bình đẳng. Do đó, ngộ không do tu cũng chẳng phải không tu… Thực sự chẳng có chi phải được hay chẳng được, nên gọi là Đạo tự viên thành, không thủ không xả cũng chẳng phải như thế là phải, vì mọi biểu hiện đều siêu việt, chẳng có Tâm để dính mắc hay không dính mắc cái gì. Phật A Di Đà thành Đạo nhưng vì tất cả chúng sinh mê nên Người vẫn chưa thành Đạo quả, đó là điều kỳ diệu! Thích Ca Mâu Ni thành Đạo “từ vô lượng kiếp” chẳng đợi biểu hiện tám tướng mới thành Đạo, chẳng lẽ khi sinh ra làm một sắc thân đầy đủ ngũ dục, lại đánh mất Đạo hay sao? Chẳng có mất, còn … chỉ vì nhận lầm mà thành sinh tử, bất mãn, rồi tạo đủ thứ lấy bỏ, mà chẳng biết đều là vô thường, hư vọng… Nếu biết lầm thì thôi vậy, có gì được hay chẳng được. Đạo chỉ là một danh từ, để chỉ sự trật tự của vạn pháp, cái này là cái này, cái kia là cái kia, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt… chẳng hề hỗn loạn, mông lung, điên đảo … Vì tâm vốn không có tự tính chứ chẳng phải không có Tâm, nên nó mới có lầm, có chẳng lầm, mà thực sự nó chưa từng lầm hay chẳng lầm chi cả, đó chính là sự thực của vạn pháp, chẳng thêm chẳng bớt dù mê hay ngộ. Toàn là danh sắc như huyễn như hóa, nhưng cũng là để biểu hiện tính vô sanh; vô ngã, vô tâm, vô tác, vô tận, vô lượng v.v… đấy thôi. Cái biểu hiện, cái được biểu hiện, cùng sự biểu hiện như nhất, tịch diệt, viên mãn … lìa ngoài nắm bắt, nhưng nếu không một lần “khám phá” thì dù có nắm bắt hay không nắm bắt “sự thực” này, cũng đều là ảo vọng.
– Biết ảo vọng thì thôi vậy. Phải chăng ?
– Như người thấy hình vẽ đất trời chẳng cho là thực, nên mới “được” cái chân như vô tướng đó.
– Sở dĩ được như vậy là vì cái mê của chúng sinh chẳng có tự tính, nên mới có thể ngộ được vọng tức không.
– Ngộ Tính Không, Tâm cũng Tính Không, vạn pháp Tính Không … Nên chẳng gì chẳng phải Đạo ! Vì Đạo Tính Không nên hết thảy mọi mọi mỗi mỗi cái cái con con v.v… viên thành !

 

Nếu người nào thấy được vạn pháp là vô ngã, thì sẽ chứng pháp giới, không đâu chẳng là nhà! Nếu người nào thấy được vạn pháp đều vô thường, thì sẽ chứng Tính Không, làm lợi lạc hữu tình, như chưa từng lợi lạc! Nhất Tâm đối tượng hóa, phổ chiếu khắp hằng sa, gương sáng cùng vạn pháp, như vầng trăng đáy nước! Tùy theo Tâm điều kiện, mà thành có thành không, liễu duyên liền giải thoát, uế tịnh nào dính chân! Ở chỗ chưa sanh nó muốn sanh, Lão liền khám phá bỗng cười vang, bộ mặt xưa nay đâu đổi khác lúc thì đi xuống lúc đi lên ! Giác ngộ và Chân lý, không một cũng không khác. Dù có Phật hay chăng, Pháp thường nhiên tự tại ! Nếu chẳng có Bản Giác, thì chẳng có gì hết, nếu chẳng có gì hết, thì sao ngộ Bản Giác ! Hết thảy Pháp thanh tịnh, như Pháp vốn thanh tịnh, còn nghi ngờ nữa không, dù sao cũng thanh tịnh ! Chính sanh Tâm Phật Tâm, là cách nói khai thị, bổn lai chẳng phải Tâm, cũng chẳng phải Vô tâm! Thế gian pháp như thế, Phật pháp cũng như thế, mọi sai biệt đều Như, bởi chơn như vốn thế !

Không có sinh tử, cũng không có phiền não … chỉ là “Pháp” (tuyệt đối, tương đối) sống động linh hoạt như thế khắp thời gian không gian bất khả thuyết, bất khả bình đẳng, bất khả sai biệt, bất khả hữu phi hữu vô phi vô … Vì chẳng “thấy” như thế nên có ảo tướng về sinh tử, phiền não … cùng vô lượng tướng trạng bất khả thuyết… Như vậy, “chân lý” chẳng phải bình đẳng, sai biệt, niết bàn, sinh tử, duyên khởi, tánh không … chi ráo, mà “tùy thuộc” vào “chân lý” nên vạn pháp thành ! Nếu không thì vạn pháp vô sanh vô diệt như “chân lý” vô sanh vô diệt.

Ta tìm thấy trong các duyên không có các khổ, sinh, tử, vô minh, giải thoát… Hết thảy đều là chân như niết bàn không loại trừ một pháp ngu hay một pháp trí. Nếu có pháp ngu hay pháp trí … đều là vô thường vô ngã khổ không ! Mà Niết bàn chân như chẳng phải duyên chẳng phải phi duyên …

Ta tìm thấy nơi “không” chẳng phải là cảm giác, trạng thái cùng các phẩm tính, đặc tính, bản tính chi cả. Mà chỉ là “Sự thật”, “Pháp” … trong suốt không thể nghĩ bàn.

Duyên khởi cũng là “Pháp”(lý) chứ chẳng phải chỉ là “vật” (sự). Nếu không nhân duyên mà thành vật là chấp thường, có nhân duyên mà không thành pháp thì chấp đoạn. Duyên khởi siêu quá đoạn thường, cũng siêu quá chính nó. Thực ra nói Duyên Khởi Tánh Không hay Tánh Không Duyên Khởi … là để khai thị chân tính sống động lý sự vô sở đắc, trùm khắp không thời gian mà cũng siêu quá không thời gian … Do đó ba pháp ấn là Như Thị: Vô thường = Vô ngã = (Khổ = Không) = Niết Bàn = 0 = 1 = 3!

Duyên Khởi pháp giới hay Pháp giới Duyên khởi tức Thực tướng vô tướng, thanh tịnh vô cấu vô nhiễm vô thủy vô chung như nhất tịch diệt. Những sinh tử niết bàn dường như có khởi có diệt, có nhiễm có tịnh … mà thực ra chỉ là những giả danh, vọng lập. Mà giả danh cũng là duyên khởi cũng là nghĩa Không cũng là đệ nhất nghĩa Trung Đạo! Pháp giới = Duyên Khởi = Tự Tâm = Sống Động = Chân Tánh = Viên Giác = Như Thị! Ngôn ngữ chỉ bày Thực Tướng thì không phải Thực Tướng, nhưng cũng chẳng lìa Thực Tướng mà có thể chỉ bày ! Tính duyên khởi như thế. Do đó nói nếu lìa Pháp giới Tính không thì chẳng có giả danh mà cũng chẳng phải Trung Đạo. Mà Đạo thì không thể nghĩ bàn, nhưng bất khả tư nghị không có nghĩa là có nghĩ hay không nghĩ bàn nên nói nghĩ làm về Đạo cũng là Đạo nên không bao giờ dứt bởi vì chưa từng khởi. Hết thảy ngôn hành (duyên khởi) về Đạo (chơn không) đều phải, nhưng chỉ phải trong từng khía cạnh. Như nói về “khối cầu” thì nói khía cạnh của hình tròn, mặt tròn của khối cầu đều phải vì ngoài những khía cạnh của thấy biết không đâu có “khối cầu”. Một là tất cả … là ý nói sống động, vô ngại, dung thông, viên chiếu … Nếu không hiểu điều này sẽ sinh chấp thủ kiến, và không thể thực chứng vô – tướng – tướng giản dị như chính vạn sự vạn vật vốn là chính thế ! Đạo vô sanh sanh, vô diệt diệt, vô tận tận, vô thời thời, vô tu tu, vô chứng chứng … bởi Tính Duyên Khởi của Pháp giới hay Pháp giới tính như thế, không phải cao hạ mà cao hạ, không phải trước sau mà trước sau bình đẳng … Cũng gọi là vô vi vô tác, vì không người tạo tác, tức nguyên nhân đầu tiên ! Cũng là vô sở đắc vì chẳng đợi đắc hay vô đắc mới vô sở đắc! Như vốn là Phật rồi cũng chính là “Pháp” đó chớ chẳng đợi pháp hành mới thành Phật đạo! Vì hành pháp cũng là Phật đạo, vốn như thế trong từng sợi lông cụ túc vô lượng vô biên thế giới!

Thấu hiểu (Bát nhã) cũng là thấy biết tự do (Quán tự tại) thì tự độ độ tha giác hạnh viên mãn như tánh sai biệt bình đẳng của vạn pháp,- như tánh vô thường vô ngã niết bàn bổn lai như thế. Chỉ có sự thấu hiểu như thế mới gọi là chân tâm Phật tính giác ngộ pháp tánh vô thượng. Nguồn chân đã tột thì phiền não hay bồ đề đều Như! Mọi giáo pháp dù tuyệt đối tương đối hiện tượng hay bản thể, ma ngoại hay chánh lý đều tùy thuộc chân không diệu hữu mà huyễn hiện tánh vô sở đắc, vô sở hành ! Nhất thiết pháp (Pháp giới Duyên khởi) = Không (Chân không diệu hữu) ! Chớ không phải có cái sinh ra vạn pháp rồi vạn pháp trở thành không hoặc hiểu theo bản thể là căn nguyên của hiện tượng hay phương tiện (khởi đầu) đi đến cứu cánh (cuối cùng)… Sai một ly đi một dặm! Nhưng Đạo vốn phi Đạo tức ý nói Đạo linh hoạt nên mới nói chưa từng mê ngộ mà mê ngộ mới… diệu kỳ ! v.v… Thời mạt pháp có thể đúng, bởi sao ? Ngày nay người ta chạy theo giáo lý thì nhiều mà ít ai thực chứng vạn pháp duyên khởi tức nhất chân pháp giới. Họ còn tạo tác ra bao nhiêu tôn giáo, tông phái tùy theo cái học cái hiểu cái hành cái chứng vin vào văn tự chữ nghĩa rồi cho rằng mình đã sáng tạo con đường mới. Krishnamurti ra đời để dẹp sạch mọi hệ thống tôn giáo, triết học, đạo đức khói mây này, thắp lên một ngọn lửa như vạn pháp là một ngọn lửa trong ngần vô ngấn. Điều này, K. cũng không phải là mới mẻ gì, vì bất cứ người chứng chân lý nào cũng nói lên được, như Long Thọ, Tâm Tế,… chẳng hạn. Rồi sự ham mê giáo lý sẽ dừng lại, để cho chân lý bùng lên một lần nữa và đêm tối và sa mạc sẽ lớn dần … Nhưng chừng nào người chứng chân lý (Phật) còn thì giáo pháp (Pháp) sẽ không mai một, cũng như chân lý (Pháp) bất tăng bất giảm !

Thực ra, không một pháp cho ông hiểu, không một pháp cho ông chứng ! Phật là người vô sở đắc, như vạn pháp vô sở đắc. Ông chỉ vẽ rắn thêm chân ! Dù ông mê hay ngộ Pháp tánh thì ông cũng chẳng lìa Pháp tánh mà nhíu mày nhăn mặt ! Cái mê của ông không thực có như vạn pháp không thực có, và vì duyên khởi không bịnh gì chẳng chữa lành, ngay cả bịnh ngộ ! Ông còn làm gì !? Chớ lao nhọc chạy theo hòn đất rồi sinh tâm bỉ thử như tam giới là nhà lửa đổ thêm dầu! Tuy nhiên, cũng chỉ là Phật sự bất khả thuyết đấy ! Ông hiểu bất khả thuyết chăng ? Bất khả thuyết bất khả thuyết …v.v… ! Dù ông có “biết” thì cái “biết” của ông cùng với Thích Ca vẫn sai biệt! Ông biết chăng ? Vậy mà Thích Ca cùng ông như hai giọt cam lồ ! Một giọt cũng đủ cần gì hai giọt ? Nếu ông biết đủ thì một, hai hay nhiều hay không không một giọt đâu khác ! ! !

Nguyện những lời lẽ này, nếu ai được thấu hiểu, hoặc nghiệp khổ ba thời, đều thành cam lồ vị!

Phật chỉ là một chữ “Biết”. Xưa nay chư Tổ muốn chỉ bày, nhưng thường thì nhận lầm cái “Biết” nên mới có vô số phương tiện, phương pháp. Và Pháp tức Chân lý tuyệt đối, không ngoài cái Biết, này là được.

Khi tôi nói bạn nghe thì đó là ngộ nhập Phật tri kiến. Còn nghe và nói cái gì, hiểu ra làm sao, ai nói ai nghe … thì đó là nhơn duyên vọng lập. Cái thấy nghe hay biết của các quan năng, kể cả ý thức lẫn vô thức chỉ là một tâm, và tự tính của tâm này là chân như. Không có tự tâm thì chẳng có thấy nghe hay biết chẳng có các cảnh các thức cùng pháp giới trùm khắp chi hết, và thực ra không có hư vô, đoạn diệt, ngoan không, trống rỗng nào cả, vì ngay chúng cũng là tâm như tất cả vạn pháp. Vì không biết, nhất tâm chân như vọng thành chủ khách. Biết chủ khách chỉ là nhất tâm chân như thì vô minh diệt. Cho nên nói cái gì, hiểu ra sao, cùng bất tri vô giác như đất đá cũng đều là một nhất tâm chân như. Không chi ngoài một Tâm này, Tâm này dù ngủ hay thức, sống hay chết, phàm hay thánh, ngu trí ràng buộc giải thoát. … vẫn “ở đó”, thường trụ, như thị, đang là. Mỗi mỗi tâm mỗi mỗi cảnh đều biểu hiện tính mình một cách vô ngã, vô tướng, không tịch, không sinh, không diệt, không niệm, không chủ, không khách … Khi nó khởi thì trùm khắp pháp giới tự tâm, khi không khởi thì nó cũng không có chỗ trụ, không mất, không còn, không một dấu vết. hữu vô năng sở có thể được hay không được. Nói khởi hay không khởi là nghĩa tùy duyên vả nói trùm khắp chưa từng đi đâu đến đâu là nghĩa bất biến. Nó chẳng phải là tâm là cảnh là kiến là địa … nhưng lìa kiến văn giác tri … thì cũng chẳng phải. Và như vậy, mọi vô minh vọng lập tri kiến … cùng với “nó” không khác, chỉ vì nhận lầm “nó” có vẻ khác hay không khác mà thôi ! Ngộ nhập Phật tri kiến thì mọi cầu tìm chân lý chấm dứt nơi Niết bàn tịch diệt, không gì chẳng phải là Niết Bàn. Và Niết bàn là gì ? Đây không phải là một câu hỏi, do đó không có lời nào để nói. Không có lời nào để nói, nên cũng chẳng làm sao để đạt niết bàn, vì Niết bàn “Như thị” !

Mỗi mỗi sinh linh đều là một viên ngọc báu sáng ngời. Nếu trực ngộ được viên ngọc báu sáng ngời này thì không gì chẳng như ý. Chỉ vì không thực nhận nó là cái chân thật xưa nay của vạn sự mà nhận vạn sự làm mình, nên mãi dong ruổi. Mãi dong ruổi vì chẳng thực nhận ra chân tánh của mình, thì muốn nhận ra chỉ thôi dong ruổi theo cảnh ngoài cùng tâm thức bên trong ắt có ngày trực ngộ cái chân thật. Cái chân thật đó chẳng phải là thân tâm cùng cảnh giới dù là thân tâm cùng cảnh giới địa ngục cho đến thân tâm và cảnh giới Phật cũng chẳng phải thì chân tánh ở đó, ngay trong vạn sự ! Biết một niệm mê lầm một cách trọn vẹn, toàn diện thì cái Phật tâm hiện tiền, đầy đủ muôn pháp mà chưa từng ô nhiễm, chưa hề ngăn ngại, chưa hề sinh tử hay niết bàn, huống hồ là tâm pháp. Chỉ là một pháp thân như lai thường trụ, không phải nhất không phải dị, vì quang minh linh diệu trùm khắp vậy.

Một niệm khởi lên muốn thành tựu Phật quả là cái gì chẳng thể nghĩ bàn, nó sẽ không bao giờ mất cho đến khi đủ duyên thì hoa trái bồ đề sẽ viên mãn. Cần nhất một niệm này và cũng từ một niệm này xoay lại bên trong Tâm mình để xem xét dòng vận hành của tâm pháp để đến chỗ tận cùng của nó khi nó chưa sinh khởi, tức ngay một niệm xem xét chỗ chưa sinh của một niệm đó lại là cái gì chẳng thể nghĩ bàn nữa rồi. Khi năng niệm và sở niệm tiêu vong thì bổn tâm lộ bày trong cái vô biên vô tướng của nó không thể nào nắm bắt được, thế ấy mà lại đủ diệu dụng sắc thân như lai vô hạn lượng chỉ là một pháp thân Phật, tức chân tâm vô tri, tự tánh vô sinh này. Rồi sẽ thấy sự hi hữu bổn lai của mọi danh tướng như huyễn nơi tự tánh không tịch này mà vì mê lầm bỏ gốc lấy ngọn thành ra cái vô cùng bị đóng nhốt lại trong từng khía cạnh của sự vật, mà ở đó, mọi trầm luân của mộng tưởng sai biệt sinh tử bất tận.

Tự tính vốn vô sinh mà nay có các pháp như huyễn như hóa đó là cái dụng chân như chẳng phải không, nơi cái thể tịch diệt nên chẳng phải có gọi là sinh mà vô sinh tức thực tướng các pháp.

 

Từ bỏ một việc gì, một vấn đề gì như tất cả thế gian thì dễ nhưng thấu hiểu trọn vẹn thế gian thì thực là khó. Vì từ bỏ thì vấn đề bị thay thế, như hữu thành vô, vô lại về hữu … chứ không như thấu hiểu vấn đề. Thấu hiểu thực sự một việc gì như sinh tử chẳng hạn, thì vấn đề đó tự từ bỏ không một chút nỗ lực hay chạy trốn, che lấp vấn đề bằng cách này hay cách khác và cũng chẳng còn kẹt vào một bên nào như mê và ngộ, vì mê nên lấy ngộ trừ, tức xem xét chứ thực không có cái ngộ nào để nắm bắt. Nếu có Niết bàn thay thế sinh tử thì niết bàn đó là phủ nhận sinh tử chứ không phải niết bàn tự tánh chân thật không sinh không tử. Giới định huệ chỉ là một, tùy sâu cạn mà sáng tỏ vấn đề lâu mau. Nếu được trí tuệ vô sư tức cái trí tự nhiên căn bản từ chơn tâm tịch chiếu thì giới mà không giới, định mà không định, tuệ mà không tuệ, cho đến sinh tử mà không sinh không tử, niết bàn vô sở đắc. Và như vậy là chứng ngộ vô sinh, thực tướng, chân tánh của chính mình, của vạn pháp như huyễn, tất cả cảnh giới đều là Như lai cảnh giới, không thấy có chúng sinh không thấy có chư Phật, một thu nhiếp tất cả, tất cả dung thông tương tức một. Tam thân tứ trí chỉ là một nhất tâm chơn như, mỗi động dụng mỗi hành tướng đều là Phật tâm lưu xuất không phải cái này mà là cái này, không phải cái kia mà là cái kia, tự tại vô ngại, chân không diệu hữu, tịch diệt vô dục vô y. Chư Phật chư Tổ ra đời chỉ nhằm mục đích hiển chân phá vọng, đem hết thảy chúng sinh chúng tử vào Niết bàn như chân tính rốt ráo không tướng không vô tướng của chúng, y nhiên là nhiên như thị mà vì một niệm bất giác chẳng hồi quang phản chiếu bèn rời lìa cội nguồn chơn thật mà đi tìm cái hư vọng. Một niệm ngộ tự tính chẳng mê, tất cả pháp tịch diệt.

Lời này tiếng nọ hoặc thuận hoặc nghịch chỉ là phương tiện làm cho chúng sinh chúng tử hồi đầu thị ngạn, ngoài ra Phật còn chẳng có nói gì chúng tử chúng sinh.


Không có gì đáng nói đáng nghĩ đáng làm. Chỉ trừ Phật pháp mới đáng nghĩ đáng nói đáng làm. Nhưng Phật pháp thì luôn luôn thường trụ ở đó như hư không bao hàm vạn tượng chẳng thể nói chẳng thể nghĩ chẳng thể làm nên tôi làm tôi nói tôi nghĩ về Phật pháp không bao giờ hết. Vô lượng kiếp sau cũng thế, như chân không diệu hữu bất nhất bất dị, Phật và chúng sinh không hai, chỉ vì không biết tánh chúng sinh là Phật tánh, biết mê liền xong, không có cái ngộ khác. Thà ngu dại trong Phật pháp còn hơn làm tà sư ngoại đạo cho ngoài tâm có pháp bèn bảo cứ luân hồi đủ ba a tăng kỳ kiếp sẽ nhập Đại ngã hoặc tin rằng mình cùng muôn vật cùng cha cùng mẹ … Thà khởi một niệm thành Phật tức thành tựu Tâm này mà không bao giờ thành còn hơn là nhắm mắt buông tay phó mặc cho Thượng đế bịa xạo. Vì tin mình là Phật và mình cùng tất cả chúng sinh đều có Tâm này, nó chẳng mất chẳng còn, chẳng thành tựu cũng chẳng hoàn tất vì luôn luôn “ở đó” rồi ! Thấy chăng ? Nếu chẳng thể thấy liền ngay tức khắc thì phải xem nơi tâm có cái gì gọi là tham hay không tham dù thô dù tế dù uế dù tịnh dù rộng dù hẹp đều xét kỹ cho đến khi nó biến mất như một cơn mê sảng, rồi thì cái không còn mê sảng đó tức biết mình không còn tham hay không tham cũng xem kỹ để vượt qua thì lúc đó được gọi là tri kiến giải thoát cũng được giải thoát nữa, thì Phật địa dưới gót chân ! Chớ màng đến ngũ thông vì ngũ thông cùng các thứ thiền định đều là sự sáng tạo của tâm thức, chỉ biết Tâm này là Phật mà không thấy có cảnh uế tịnh tức là lục thông vậy. Chẳng sướng hơn là an trú trong thiền định ngũ thông ư ! Được như thế thì quơ tay động chân đều là thần thông diệu dụng tạm muội hiện tiền không một chút nỗ lực, hy cầu. Như viên ngọc tự chiếu chẳng phải lau chùi tối để được sáng gì cả ! Vì chúng sinh mê lầm ở nơi chơn tâm rỗng lặng sáng suốt bỗng sinh một niệm biết sáng biết lặng bèn có năng tri sở tri vũ trụ thành lập, sáu đường tâm thức tạo tác tương quan uế tịnh vô số cảnh giới cho là thật có thật không, chư Phật tùy cái mê bổn tâm ấy mà nói hữu ngã, vô ngã, chân như, nói nhơn duyên, phi nhơn duyên, tâm pháp duyên khởi, tánh tướng như thị… thảy đều thuốc bệnh trị nhau. Bịnh lành thuốc hết, xưa nay chưa có thân tâm cùng cảnh giới lấy gì giải thích, biện luận thân tâm cùng cảnh giới của chúng sanh cùng chư Phật đoạn hay thường, vô hạn hay hữu hạn, hữu vi hay vô vi … ! Nơi Phật nhãn, thanh tịnh không thấy có một vật có thể được, một pháp có thể đắc lấy gì nói danh tướng vọng tưởng chánh trí như như cùng y tha viên thành ! Do đó chư Phật Im Lặng khi hỏi về nguồn gốc vũ trụ nhân sinh cùng các vấn đề triết học siêu hình do tâm thức vô cớ bày lập chẳng tự biết bổn tâm thức tánh không sanh không diệt chỗ nào nói sinh thành hoại diệt, khổ không vô thường vô ngã… để cho ngôn thuyết luận giải khệ nệ bộn bề như chơi trò ảo thuật! Chư Phật dùng Thánh trí tự chứng để giải luận mê lầm là “không tánh”, nơi “không tánh”các pháp như như còn có gì nữa để hỏi để đáp, để thấy nghe hay biết thiết lập mọi tiến trình phàm thánh thứ bậc mà tu hay không tu, chứng hay không chứng ! Như vậy mười hai phần giáo, bốn thời thuyết pháp đều vì chúng sinh sai biệt chỗ nơi Phật Tâm đức Như Lai chưa từng nói một chữ dù là Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn Diệu Tâm Bát Nhã Tịch Diệt ! Như thế, tất cả các pháp thế gian, xuất thế gian cho đến Phật pháp cùng sum la vạn tượng ba đời mười phương đều là sự sáng tạo cùng các pháp như huyễn như hóa, nơi như huyễn không có đến đi, không có hư, không có thực, không có sinh tử niết bàn, vì tất cả sự sai biệt của các pháp chỉ là một nhất tâm chân như. Vì không biết nhất tâm chân như này mà chạy theo các pháp cho rằng chơn hay vọng, tự sanh hay tha sanh, cộng sanh hay vô nhơn sanh cùng các thứ luận giải tri kiến như thế đều phát khởi từ mê tự tâm bổn tánh các pháp mà thiết lập thi vi như người trong đêm tối nói về ngày sáng dù nói như thế nào cũng chỉ là vọng tưởng, và tùy vọng tưởng mà vọng hành, tùy vọng hành mà vọng đắc, nên không tránh khỏi lỗi thường, đoạn. Một niệm vô sinh siêu việt nhân quả, không biết một niệm sinh vô sinh thì bị nhân quả trói buộc vì chỉ duyên theo một niệm sinh diệt vốn là then máy tạo tác mọi danh tướng sai biệt! Biết được, mọi sai biệt liền thanh tịnh, bình đẳng, diệu minh, phúc lạc, bất biến.

Phát tâm tu hành rất quan trọng nó là nhân của quả. Nhân chánh thì quả mới chánh, nếu không thấy được chỗ thiết yếu này, thì sự tu hành vô ích, bất quá chỉ được phước báu nhơn thiên rồi cũng vô thường sinh tử khổ mà thôi. Cho nên nói phát tâm tu hành đó tức là phát bồ đề tâm vậy ! Nếu không nhận biết mọi tâm sinh tử là hư vọng thì chẳng thể phát bồ đề tâm dược. Biết lầm thì liền bỏ, chớ không phải sửa cái lầm mà dược, vì tâm mê lầm đem sửa sai thì vẫn là lầm một cách khác nữa và cứ như thế không biết bao giờ dừng. Chỉ biết tâm sinh tử là lầm thì không còn sinh tử nữa, thì bồ đề tâm được phát minh, khám phá, hiển hiện. Nơi bồ đề tâm không có chủ khách, không có ngay cả tâm bồ đề nữa huống hồ là có tâm sinh tử. Cho nên nếu một lần biết vọng liền thôi, như người đêm trăng thấy bóng cây trên cửa sổ tưởng vật gì dùng tay cầm lấy bèn bật cười vì chỉ là cái bóng, do đó (biết) bỏ (lầm) mà không diệt dứt bóng, thấy tính như huyễn của vạn pháp bèn nhận được thực tướng chân như. Trong bồ đề chân như tự tánh không có nhân không có quả, không có nhân quả đồng thời hay dị thục, cũng không có lìa nhân quả hay đoạn diệt nhân quả, mà chỉ còn là một thực tướng như nhất không có vận hành của thời gian trí tưởng, chỉ là một Phật sự viên thành, chẳng có lý sự tương ưng hay tánh tướng là một, cũng chẳng có tùy thuận chân như phóng xuất hoạt tồn hay nghịch lại với chân tánh. Vì tất cả là Phật pháp, sự sự đều là chánh đẳng chánh giác! Do đó, phát bồ đề tâm tức ngay đó là Phật tâm, và mọi sự tu hành vô sở đắc, vô sở trụ, như bổn tính như thị của Pháp của Đạo lý vô thượng vậy !

Và Phật tâm đó là gì ? Không thể nói là gì được, vì nó sáng suốt bao trùm vạn pháp, xuyên thấu vạn pháp, siêu quá vạn pháp. Nó chẳng uế tịnh tối sáng chi cả, do đó chẳng thể tu để được nó, hay không tu để được nó. Dù khắp pháp giới chìm đắm trong vô minh hay giác ngộ giải thoát, nó vẫn như như bất động. Nó chính là Pháp tối thượng, vô thượng chánh đẳng chánh giác, nên gọi là Phật pháp không hai !

Vạn pháp chỉ là “Không”, là “Đạo” là vô ngã tuyệt đối, nhưng chúng sinh không biết như thế nên đi tìm Niết bàn viên mãn. Đi tìm cái mà mình quên mất lại gặp Hữu, thấy biết Hữu là vô thường bèn tạo lập Vô, nhưng Vô là bề trái của Hữu, cũng vô thường như thế. Rong ruổi tìm cầu suốt a tăng kỳ, một hôm có một chúng sinh chạm phải “Pháp Không”, từ đó mới thôi dứt trần lao vô minh khổ lụy, mới biết mình xưa nay vẫn an trụ Niết Bàn Diệu Tâm như thế, không có một pháp chi là phàm thánh, mê ngộ, chơn vọng. Tất cả đều là … “Như Thị”, Tự tánh tự độ không đâu mà chẳng có nó, nên còn gọi là chư Phật luôn luôn hộ trì gia bị chúng sinh nhưng chúng sinh không hay không biết! Thật là Trò Đùa cười ra nước mắt !

Nơi Nhất tâm chân như không có kinh nghiệm về chính nó, cũng không có kinh nghiệm về vạn pháp. Chỉ khi bị nhị phân năng sở mới có kinh nghiệm về thân tâm thế giới. Do đó, nếu không tự biết mình vô minh thì chẳng thể có cơ hội giác ngộ chân tính. Bổn lai vạn pháp chính là Nhất tâm, biết được như thế thì ngay khi nhị phần chủ khách cũng đều là Nhất tâm chân như, không còn bỏ vọng lấy chơn, vì chơn vọng … cũng là “Pháp”, chẳng lìa “Pháp” mà có thánh phàm mê ngộ. Biết Pháp đó tức là ngộ nhập Phật tri kiến, chớ không phải cái biết của tri thức vọng tình phân lập vô minh chủ khách. Cũng chẳng phải cái bất tri bất giác hay cái biết của vô thủy vô minh, cũng chẳng phải cái biết của bản năng thô động, cũng chẳng phải cái biết của tọa vong, thần hóa, hợp nhất … Mà là cái Biết tức Phật tức Pháp tức vạn pháp giai như ! Bổn phận của chúng sinh chúng tử là khám phá cho được cái “Biết như thị” này, ngoài ra không việc khác, dù cho tu hành hay không tu hành, từ bỏ vô minh vọng kiến, từ bỏ phiền não ngã chấp pháp chấp hay không cũng chỉ là việc bên ngoài, trừ khi trực ngộ mình chính là cái chánh đẳng chánh giác đó, khi ấy mới gọi là xong việc, mọi sự đều là Niết Bàn Tịch Diệt ! Cái Bản Giác như nhiên đó cùng với vạn pháp như sữa hòa với nước, khéo nhận thì toàn là “Phải”, không khéo nhận dù là cho rằng “ngộ” cũng có thể lầm ! Nhận lầm thì muôn sự trái, nên tiếp tục trong vô thường vô ngã khổ không, cứ như thế cho đến khi trực nhận chân tâm bổn tánh mới gọi là “Như Thị”.

Chúng sinh chưa từng vọng, do đó cũng chẳng chơn. Xưa nay chỉ là một Tâm chân như, tùy duyên mà thấy có sinh tử, niết bàn. Biết sinh tử niết bàn là tùy duyên nên tự tâm bất biến. Tất cả các pháp không sinh không diệt, vì vọng cũng chẳng được mà chơn cũng chẳng được, nên gọi là “không”, siêu việt đoạn thường, phàm thánh … Vì thấy có ta có người có sự này vật nọ trước sau trên dưới bèn cho có cái riêng cái chung, thực ra thì không là gì hết, không có chi hết chỉ là một nhất tâm chân như nên cũng thấy nghe hay biết, cũng sắc thanh hương vị xúc pháp, cũng thế này thế kia, mọi mọi đều đầy đủ trong mỗi mỗi vị thế của nó tạm gọi là trùng trùng duyên khởi vô tận vô lượng, không có chỗ dụng công, không có tri kiến vọng lập, vì thực ra thì dù có tri kiến vọng lập hoặc tạo tác hay không cũng đều là nhất tâm chân như chánh đẳng chánh giác cả.

Biết những gì xảy ra nơi Tâm bạn đều là vô thường vô ngã, cũng từ đó mà cảnh trước mắt bạn cũng vô thường vô ngã, vì tâm bạn khởi diệt như thế nào thì cảnh trước mắt bạn như thế. Khi Tâm lặng lẽ không có niệm sinh không có niệm diệt, bạn cũng biết nữa, và chỉ biết như thế mà không thủ không xả thì bạn sẽ tự do với chúng, tức bạn tự do với tâm cảnh động tịnh vì bạn trực ngộ bổn tánh của Tâm bạn vốn không sinh không tử, không động không tịnh, cũng chính là cái tánh giác của bạn, không chi ngoài nó.

Bạn nên biết thêm rằng những gì bạn học được hiểu được từ những pháp thế gian cho đến pháp xuất thế gian cho đến Phật pháp đều là bóng ảnh của cái bóng ảnh Thực tại. Do đó bạn cần buông bỏ hết những gì bạn học được hiểu được làm được dù là diệu lý của Thiền của Đạo của Tâm của tánh của tướng của không… Nếu bạn buông bỏ được thì bạn mới thực sự tham thiền hành đạo. Còn nếu một chút còn nương tựa để tiến bước trên con đường thì bạn chỉ được cái chân lý hóa thành. Nếu bạn buông được thì tự tại nắm được, đó là chỗ bậc tối thượng thừa xoay lại liền thấy một cách chân thật, không còn chỗ đi ! Tức sinh tử tịch diệt.

Năng sở không tịch chẳng phải là không có năng không có sở mà chính là năng không tịch thì sở cũng không tịch. Vô ngã tuyệt đối không can hệ chi đến ngã cùng vô ngã của phàm phu hay thánh triết cả. Thiên đường địa ngục, thành Phật thành Thánh cũng chỉ là một tâm vô ngã tuyệt đối không tịch này, chỉ nhận lầm tâm phan duyên vọng lự mà có thiên sai vạn biệt, rồi muốn bỏ cái thiên sai vạn biệt này mà đem trừ diệt cái tâm phan duyên vọng lự thì thực là cái lầm vi tế khác. Đâu biết nếu ngay nơi “không còn biết làm gì hay không làm gì cả” đó, cái tâm không tịch đầy đủ tâm cảnh lặng lẽ quang minh như xưa nay chưa từng đi chưa từng đến hiện tiền mà ngay cả những cái gì trước kia ta cho là tà vọng cũng đều là một tâm chân như ! Ngay nơi chỗ này tâm chân như, không tịch còn chẳng biết đến nói gì những tâm sai biệt khác. Nếu còn thấy Thực tại còn chưa phải, thì thấy cái bóng ảnh của Thực tại mà cho là phải sao ! Cho nên “thấy” mà chẳng có cái thấy và cái được thấy thì sinh tử, niết bàn làm gì có thể ô nhiễm trụ trước được.

Người ta có thể trao truyền kiến thức, kinh nghiệm, tín ngưỡng, kỹ thuật, nghệ thuật cùng các thứ đại loại thay thế biến đổi như vậy, nhưng cái “thấy” tức cái ngộ nhập Phật tri kiến thì không thể truyền trao cho nhau được. Bởi vì cái đó ai cũng có, cái đó chẳng phải nhơn duyên chẳng phải tự nhiên, chẳng phải tạo tác chỉ diệt hoặc tùy thời ứng biến trong tâm không có vật không có niệm … Thực sự khi “không dính mắc” vào đâu cả cũng còn là trệ ngại, nói gì đến dính mắc vào Đời vào Đạo … Vì vậy, người ngộ nhập Phật tri kiến rồi mới thấy tam tạng kinh điển cùng tam giới vào ra uế tịnh đều là nói mớ nằm mộng cho vui mà thôi.

Nhận được tâm không tịch, không sinh không diệt thì tu hành là chân như bổn tánh hiển hiện trong từng động niệm hành tác, cảnh cảnh đều vô sinh. Còn nhận tâm sinh diệt mà tu hành thì phá vọng hoàn chân cũng là mê cảnh, kẹt tâm. Bổn lai không có hai, nay ở nơi tâm sinh diệt thấy có lau gác thành hình, mà thật thì tự tâm chân như. Không có gì chẳng phải là Phật, nhưng Phật thì chẳng phải cái này hay cái khác. Phi chẳng tự phi vì thị vậy. Thị chẳng tự thị vì vốn phi. Phi hữu phi vô vì vô hữu vốn vô sinh bất diệt, hữu vô chẳng sinh mà phi ở nơi phi, thị ở nơi thị, pháp pháp tịch diệt ! Vì pháp tánh như thế, sinh mà vô sinh, vô sinh mà sinh, tuy vậy chẳng phải hai cũng chẳng phải một. Chẳng đem cái hữu mà làm vô, vì hữu vốn vô, vì vô nên mới hằng hữu. Cái không sinh tử không ngoài cũng không trong cái sinh tử, cái sinh tử đó không thực có cũng không thực chẳng có, vì tùy tâm mà như có như không vậy. Tâm đó tức “không” nên mới có năng lực vô tận tự tại tùy duyên, nếu tâm là sinh là diệt thì chẳng thể tùy duyên bất biến được. Bất biến tức cái Tịch tịnh viên minh ở tai gọi là nghe ở mắt gọi là thấy ở ý gọi là nghĩ suy nhận thức … Bạn khỏi làm, nói, nghĩ chi cả vì cái viên minh châu nó tùy nghi tùy dụng suốt khắp hằng sa rồi ! Tất cả pháp đều là Tự tâm thì ai ban phúc ai giáng họa ? Đã biết là Tự tâm thì ai sinh tử ai niết bàn ? Đã ngộ tự tâm thì ai làm phàm ai làm thánh ? Đã chứng tự tâm thì có pháp nào để đắc để thất để làm bản thể để làm hiện tượng khởi diệt ? v.v… Cho nên liễu Tự tâm thì muôn pháp chẳng có pháp nào là chẳng tịch chẳng mãn chẳng chiếu chẳng dụng chẳng thực chẳng chơn … ! Không thấy Tự tâm thì đi tìm cội nguồn gốc ngọn đều là phù du mê tín mộng mị như người ngu tưởng mất đầu !Pháp vô tận vì tâm vô tận, bất biến là tùy duyên vì vô tận vô tế vô lượng đó.

Trực ngộ tự tâm chẳng phải ngày nay mới được, thực sự tự tâm vốn sẵn, chỉ nhận cái kiến văn giác tri cùng cảnh trước mặt làm cái chân thật nên quên mất cảnh trước mặt cùng kiến văn giác tri vốn “không”. Cái chân thật thì chẳng vô ngã vô thường khổ không, nhận lầm cái vô ngã vô thường làm mình thì suốt nẻo luân hồi sinh tử. Biết sinh tử thì sinh tử diệt, sinh tử diệt vẫn còn vọng cần phải nhảy qua !

Khi chúng ta nói nhân tức quả, thì chúng ta đã đi trọn vẹn con đường nhân quả rồi, chạm được cái vô lượng rồi, chứ chẳng phải đem cái nhân vào cái quả, hoặc lấy quả làm nhân … Chỉ đi trọn vẹn con đường thì mới siêu việt con đường, chỉ khi tham và biết tham thì mới siêu việt tức tự do với nó chứ chẳng phải lấy bỏ tham hoặc thăng hoa, biến đổi tham thành một cái khác tốt hơn, lợi lạc hơn. Cũng thế, khi nói tâm cảnh nhất như, tánh tướng không hai … đều là “thấy biết” tận cùng cái căn tính của vạn sự, tức không còn mê mờ về chúng. Người không tin nhân quả không biết nhân quả của vạn sự thì chẳng nói, người đã tin đã biết nhân quả mà không trọn vẹn cũng chẳng thể giải thoát. Cho nên lời nói đơn giản chỉ là cái ngón tay chứ chẳng phải mặt trăng, từ ngón tay đến mặt trăng còn xa lắm, chớ lầm nơi danh tướng mà chịu quẩn quanh với bóng mình.

Mỗi sự mỗi vật đều “tuyệt” rồi, chỉ là đừng đem cái thấy vật này mà thấy vật kia, lấy vật kia tìm hiểu vật nọ, lấy vật nọ v.v… thì thành cái thấy mộng mà nhìn ra mơ ! Đó là mạng lưới vô minh kết dệt nên tôi nên anh nên chúng ta và vũ trụ rồi ! Vô minh và giác ngộ chắc chắn không có chi nhiều ! Tâm cảnh tánh tướng thể dụng cùng các thứ nhỏ to như thế chỉ là sự cảm thọ không “tuyệt” mà thôi ! Bây giờ phải làm sao cho tâm ta được trong suốt thanh tịnh trùm khắp diệu dụng vô cùng ? Chẳng phải làm sao cả, vì Tâm vốn tự tại vô lượng chiếu soi siêu việt rồi, lúc nào và ở đâu cũng “có”. Chỉ cần biết tâm khỉ vượn ưa nhảy nhót chìu níu dính mắc vào vật rồi buông vật cũng là con khỉ đó thì con khỉ tùy thuận Thể tính kia mà du hý tam muội tại vậy.

“Ngộ” đó là cái Biết. Một cái Biết không có người Biết không có cái được biết, không có người không biết không có cái bị không biết. Và khi Ngộ tam giới cùng các kiến giải tri giải về vũ trụ thân tâm v.v… đều tiêu mất, chỉ một cái Biết như là nguồn sáng vô tận mà từ đó tùy duyên nói có nói không nói vừa có vừa không nói chẳng phải có chẳng phải không mà tự nó “không một vật” có thể kiến lập. Do đó nó không còn trở nên trở thành hay không trở nên trở thành bất cứ cái gì nữa, dù đó là “Phật”, vì nó tức là Phật rồi. Mọi vấn đề mê lầm về siêu hình, vô hình, hữu hình tự nhiên tan biến trong tuệ giác, tức nơi một cái Ngộ như nhất, tức cái bất sinh bất diệt, vì thực sự xưa nay không có chi là sinh diệt, nên cái không sinh không diệt cũng chỉ là lời nói tiếp độ, chẳng phải Thực Tại. Nếu ngộ được, thì Thực Tướng đó không thể diễn tả, không thể so lường bằng bất cứ hình tướng tâm hạnh nào !

Như vậy, sự giác ngộ giải thoát là ngay nơi vạn sự vạn vật mà vẫn là “không một vật” vì thấu thoát mọi ý niệm tiên kiến về sự vật sự kiện. Cái bàn cùng cái ghế chỉ là một cái thấy duy nhất trong suốt không năng sở. Không có một nền tảng tối hậu toàn diện bất biến nào cả, cũng không có cái vô thường sinh thành hoại diệt nào cả trừ khi như một ảo giác và từ ảo giác này mọi vọng tưởng về thân tâm thế giới phát sanh. Biết được chúng là điều không khó, chỉ vì không muốn thấy bằng cái thấy bổn lai không đó thôi. “Không” đó chính là vật mà cũng là không vật, chính là chơn mà cũng là vọng, tùy duyên vận dụng thành kinh nghiệm mà thực thì không có kinh nghiệm nào làm tiêu chuẩn nền tảng cả. Cái ghế chỉ là cái ghế khi nó không là một kinh nghiệm, tuy vậy chẳng lìa kinh nghiệm mà được gọi là cái ghế.

Cho đến bây giờ khoa học vẫn còn ảnh hưởng bởi triết học Tây phương khi nó nói về vụ nổ big – bang về vũ trụ co dãn, nhiều ít, bản thể và hiện tượng v.v… Mặc dù tiến xa như thế vẫn không rời chỗ đứng của mình về một nguyên lý đầu tiên và cuối cùng mà triết học khoa học muốn tìm kiếm. Bọn họ vẫn chưa trực ngộ cái duyên khởi không tánh vô thủy vô chung trong từng hòn đá cái cây con kiến cho đến những niềm vui nỗi buồn hay những thiên hà chưa được khám phá.

Đạo là Cuộc Sống. Cuộc sống toàn diện của bạn thế nào thì Đạo của bạn như thế. Đạo không phải là làm là nói là nghĩ cũng chẳng phải căn, trần, thức, cũng chẳng phải thế gian hay xuất thế gian. Mà tất cả những cái đó chỉ là một phần của Đạo. Phật là người chứng ngộ Đạo lý thâm hậu tối thượng, không còn gì nữa để biết để tìm để thực hiện. Cho nên Phật chẳng phải tướng có chẳng phải tướng không, chẳng phải vừa có vừa không, chẳng phải chẳng có chẳng phải chẳng không, chẳng phải vọng chẳng phải chơn, chẳng phải dục chẳng phải ly dục, chẳng phải tưởng chẳng phải phi tưởng … Phật chẳng phải gốc cũng chẳng phải ngọn của vạn pháp, chẳng phải có tâm thánh chẳng phải có tâm phàm, chẳng phải cái biết hay cái bị biết, chẳng phải cái bất khả tri chẳng phải cái không bất khả tri … Đi trọn vẹn con đường mê mới biết mình ngộ, ngoài con đường này ra không có Phật khác. Và như vậy, Đạo không là gì cả, Phật cũng không là chi hết, không như thế này không như thế khác, mà là như thế như thế … Lầm ! Lầm ! Biết chăng ?

Tất cả bí yếu của sự tu hành để đi đến giác ngộ giải thoát rốt ráo là đừng hiểu lầm kinh luận rồi tùy theo cái hiểu lầm đó mà tu hành thì chỉ được cái nhận lầm bổn tánh là thức thần linh minh. Bảo rằng Phật tánh bị che lấp bởi vô minh vọng tưởng là sai, vì Phật tánh thì trùm khắp pháp giới còn vô minh vọng tưởng của chúng sinh lăng xăng như hoa đốm to nhỏ dày mỏng đủ cấp độ làm sao có thể che lấp được bổn lai ? Chỉ là vì nhận lầm hoa đốm nên mới khổ khó như thế. Chỉ cần rõ biết hoa đốm (ly nhứt thiết tướng) thì Phật tính vẫn ở đó như xưa nay chưa từng bị vô minh vọng động che lấp vậy. Thử hỏi hòn bọt dù có vô số vô lượng có thể nào làm mất hay che chướng biển cả chăng ? Do đó, chớ hiểu lầm nhận lầm thì hòn bọt làm gì được, cũng chẳng phải lìa hòn bọt hay diệt hòn bọt, vì hòn bọt chỉ là hòn bọt có làm gì dơ sạch chật hẹp hay rộng mở biển cả đâu ! Học Thiền tức tham thấu thực tướng của vạn pháp chớ không phải y trên danh tướng văn nghĩa mà thể nghiệm chiêm nghiệm…

Vạn pháp bổn lai “không” tùy tâm hiện lượng. Ngay nơi tâm hiện lượng thành muôn pháp, liền quên tự tâm hiện lượng bổn lai không, nên có muôn sai nghìn khác chẳng biết đâu ra đâu cả, như mê hồn trận. Chư Phật liễu pháp “không” nên thoát, chúng sanh chẳng liễu pháp không nên đi trong đêm dài hoang vu. Trước sau chỉ là “Một” tức chỉ là “Pháp” là “Đạo” là “Không”, chỉ cần liễu “Pháp”, ngộ “Không” chứng “Đạo” chẳng lìa Nhất Tâm thì tâm tâm đều tịch !

Vạn pháp tịch diệt đó là ý nghĩa “Như Lai tạng tính chẳng phải là các pháp mà cũng chính là các pháp”, nói “duyên khởi” nói “nhiệm mầu” nói “tánh không”, nói chơn tâm vọng tâm v.v… đều là chỉ bày để cho bạn trực ngộ cái chưa từng sinh chưa từng diệt, chưa từng mê chưa từng ngộ … đó thôi, chớ chẳng thực có Như lai tạng duyên khởi ra các pháp như văn nghĩa danh tướng. Bởi vì bạn thấy có thân tâm và thế giới vô số sai biệt nên mọi chỉ bày cũng tùy nghi để đưa dẫn về nhất chân pháp giới, sự thực không một vật có thể được vì vạn pháp vốn như. Người ta chỉ giải thích về sự vật khi sự vật thực có trước mắt người ta, và sự giải thích đó cũng là sự vật nữa, cho nên không bao giờ dứt, bởi vì chẳng liễu ngộ được nhất tâm chân như mà chạy theo mọi mọi góc độ tâm thức thành vô số sai biệt danh tướng từ cảm thọ mà ra. Sự vật trước mắt (thân tâm thế giới) bổn lai “không” (phi hữu phi vô) tùy niệm mà nói có nói không, nói uế nói tịnh, nói chơn nói vọng, nói là hữu tình vô tình hay duyên khởi tánh không … như bóng lòa, hoa đốm chẳng dính dáng gì đến sự vật trước mắt bổn lai “không” hết. Chỉ bày cho ta thấy bóng lòa hoa đốm để ngộ tự tánh không tịch của vạn sự. Người tu hành chân chính khi rõ biết vô minh thì có đường vào, còn chấp kinh chấp quyền tức lấy ngón tay để giải thích mặt trăng thì nào có can hệ ! Do đó chớ có chạy theo lời nói dù là lời nói thánh nghĩa đế cũng nên xem như phương tiện cần phải bỏ lại sau lưng mà tự bước lên bờ giác. Bước lên bờ giác mới biết cái xưa nay chẳng dính dáng gì đến học hiểu hành chứng. Hễ còn một chút Phật pháp ma pháp để ôm nắm thì vẫn là vật vô thường chẳng thể khám phá cái xưa nay xài mãi chẳng thêm chẳng bớt chẳng mê chẳng ngộ, chính cái này bất biến mới có thể tùy duyên mà chưa từng ô nhiễm, tức vạn pháp bất sinh bất diệt … Bổn lai chỉ là “một cái”, không hề có sai biệt, hễ “thấy biết” còn sai biệt thì vẫn là vô minh, chưa gọi là Phật, Phật tính không hai, nói gì chơn vọng ! Cái Tuyệt Đối thì không thuộc biết hay chẳng biết, không thuộc thánh hay phàm … cùng vô lượng sai sai biệt biệt như thế. Thấy biết là do Tâm, tâm thấy biết Đạo như thế nào đó thì vũ trụ thân tâm cảnh giới như thế. Tâm Pháp bất nhị gọi là Như Lai. Nếu khác đi như thế gọi là chúng sinh chúng tử, tức hữu tình vọng tưởng sinh diệt. Khi bảo rằng bạn ở trong vô minh thì đó là lời lay tỉnh, khai thị, bạn phải biết trọn vẹn triệt để toàn bộ vô minh thì gọi là chánh giác, không có việc khác. Nơi chánh đẳng chánh giác không có một vật được thủ xả, dù là chánh giác vô thượng. Kỵ nhất đừng hỏi việc sau khi ngộ, đang khi ngộ, trước khi ngộ trừ khi bạn tự ngộ. Bạn tự ngộ cái gì ?Rằng bạn không có sinh không có tử, bạn là cái Tâm toàn thể như nhất hằng chuyển viên mãn vĩnh cửu vô ngã vô nhơn vô chúng sinh vô thọ giả đó. Nếu bạn thấy trọn vẹn được điều này thì bạn đã tự giác giác tha giác hạnh viên mãn rồi. Và “công việc” vô tận vô lượng của bạn là “trang nghiêm Phật độ” một cách vô sở đắc. Bạn tự tại vô ngại trong mọi thị hiện phá lập, bạn vẫn như như. Mặc dù, bạn mọc bên đông lặn bên tây … như một cá thể hữu hạn, nhưng không ai biết bạn vô tận vô lượng như thế nào và cứ thế cho đến khi tất cả đều là Như Lai pháp thân. Và như vậy bạn là Thường Lạc Ngã Tịnh, không còn như một vọng tâm sinh diệt vô ngã khổ không nữa ! Không còn có một bản thể nào phát hiện ra mọi hiện tượng hết ! Và khi ngộ nhập pháp tính như thế, bạn cùng tất cả chúng sinh phát mười hạnh nguyện Phổ Hiền trong từng hạt bụi … Vô số vi trần Phật sát trong Tâm bạn ! Thực ra không có gì để nói để hình thành những khái niệm về một “bóng ảnh”. Người ta chỉ nói là nói về một giấc mộng khi đã tỉnh thức, và như vậy sự nói về giấc mộng cũng không thực khi người ta đã thức tỉnh trọn vẹn.

– Làm sao để được Đạo ?
– Không có làm gì để đạt Đạo hết. Hễ khi còn nương tựa vào bất cứ nơi đâu để được một cái gì gọi là chân thật thì cái chân thật đó cũng là hư ảo.

– Nếu không do đâu để được thì vẫn chỉ là phàm phu sao ?
– Phàm phu cũng là cái được. Thực ra không có gì để được cả.
– Như vậy có khác gì bọn ngoại đạo tự nhiên, bất khả tri, hư vô luận … ?
– Ngoại đạo tự nhiên bất khả tri hư vô luận cũng là cái được.
– Té ra là không có gì để được ?
– Cũng không phải, vì không có gì để được cũng là được đó.
– Thế thì làm sao để được cái không được gì cả ?
– Không làm sao cả, ngay cái không làm sao cả cũng là muốn được một cái gì. Sự thực thì không có chi để được vì tất cả đều “được” rồi. Tất cả tự tại tự như rồi. Chỉ vì không trực nhận như thế đó thôi.

Tự tánh như hạt ma ni không tướng tùy tâm chúng sanh ảnh hiện muôn màu. Chúng sanh tuy có tâm nhưng không trực ngộ ma ni, chỉ chạy theo ánh sáng của ma ni và hình bóng của ma ni. Khi trực ngộ ma ni châu cũng tức là tự tánh không tịch của tâm này thì vạn pháp không sinh không diệt, như bổn lai của nó tự lìa tất cả vọng tưởng, tất cả tâm, tất cả pháp. Nói tóm, vì mê tự tâm chân như nên thành sai khác từ thô tới tế thiết lập trong ngoài trên dưới từ tinh thần đến vật chất (ngũ uẩn) không biết cơ man vũ trụ nào mà kể. Nếu ngộ tự tâm, tam giới liền tiêu, tức cái vô minh về tam giới sinh diệt tiêu, chỉ chánh chơn là một viên giác chưa từng mê vọng, không có cái gì làm ra cái gì, chẳng thể nói năng nghĩ bàn mà được. Mới biết ngộ tánh không của vọng tâm tức là chơn tâm, chứ không có cái chơn nào ngoài vọng. Như Lai tạng tánh tức tất cả pháp nhưng tất cả pháp chẳng phải là Như lai tạng tánh, đây là nghĩa tức phi tức thị của Bát nhã, của chân không duyên khởi, là nghĩa vạn pháp tịch diệt chẳng đến chẳng đi, là nghĩa pháp thân thường trụ, bổn lai bất sinh bất tử, tức vạn pháp như thị, chứ không có nghĩa như Thượng đế sinh ra vạn vật, rồi trở về với Thượng đế bằng một ý chí tự do nào hoặc Thượng đế thì thường hằng vĩnh cửu còn vạn pháp thì phù du bất toại. Cho nên người ngộ thì tất cả là chơn như, người mê dù nói làm nghĩ chơn như cũng là vọng. Bởi sao, vì tự tánh chỉ có một mà mê vọng thì nhiều, ngộ thì ngộ toàn triệt rốt ráo chớ chẳng có lai rai, bỏ này lấy nọ v.v…

Tánh của vạn pháp bổn lai thanh tịnh chẳng sinh chẳng diệt, chẳng Phật chẳng chúng sinh. Tùy tâm nhiễm tịnh mà thấy có phàm thánh chơn vọng. Người ngộ tánh tức vạn pháp giai không, tùy tâm hiện lượng tự do tự tại, không thấy có mê vọng huống nữa là thấy có tướng thiên đường địa ngục nghiệp nhân phải trừ quả báo phải trả, Mỗi mỗi đều là ánh sáng của tự tâm không danh không tướng. Người chưa ngộ Tâm này là Phật, chỉ ôm lấy chút khái niệm, ý niệm, tâm niệm được mất hơn thua thương ghét … làm chỗ nương rồi từ ngã chấp này thấy pháp tịnh pháp uế có không như hoạ đốm lăng xăng chẳng tự tỉnh, càng nghĩ càng làm càng nói càng xa Đạo, Pháp. Nếu một niệm
Thủng đáy, vượt, qua liền như người tỉnh khỏi mộng, mới biết mộng là nhơn duyên hư vọng.

Không có tôi không có cái của tôi vì tôi không có một thực thể thường hằng bất biến nào cả. Do đó không có cái gì gọi là chết đây sinh kia hay là luân hồi vĩnh viễn chịu khổ thọ vui. Bởi từ tôi sinh ra đến khi tôi chết đi không có một cái gì là một tôi hay nhiều tôi hay là tôi khác. Nếu thế thì mọi sự mọi vật không thực sự hiện hữu cũng không nên nghĩ rằng có một hiện hữu chân thực nào ngoài các sự vật. Đừng cho rằng có cái tâm thức tạo ra mọi thế giới thân tâm làm nguồn gốc của vạn pháp. Và như vậy cũng không có một vũ trụ chân thực nào ngoài tâm thức huyễn hóa. Người biết mộng cùng với giấc mộng đều là một huyễn hóa. Tỉnh mộng rồi thì còn ai để nói việc huyễn hóa hay không !

Các bạn xem ! Cái Biết đó ở mắt gọi là thấy ở tai gọi là nghe ở ý gọi là nhận thức phân biệt nghĩ suy ghi nhớ … Cái Biết đó đầy đủ trong sáu căn, cái Biết đó nó có năng sở phân biệt vọng tưởng chấp trước tương tục sinh tử phiền não ràng buộc giải thoát gì không ? Hay nó vốn đã là Niết bàn diệu tâm diệu hạnh rồi ? Cái Biết đó là dụng Bồ đề, ngay cái dụng Bồ đề thấy nghe hay biết đều là tướng Bồ đề. Còn thể Bồ đề gọi là “không ai biết được y” nhưng nó chẳng phải là rỗng tuếch nên dấu nó một điểm cũng chẳng được. Tất cả đều có, chẳng riêng người ngộ, vì ngộ nên biết tất cả đều chẳng mất, chỉ vì nhận lầm thức tình mà quên mất thể tánh viên dung vô ngại chẳng đợi tu hành mới có ! Xem kỹ, chớ lầm ! Nếu thực ngộ, thì những vọng tưởng năng sở phân biệt cùng các thứ phiền não trong mê xưa kia nay là của báu nhà mình tha hồ nói đông nói tây đều phải vì vốn là vô phương vô trú.

Tâm trùm khắp pháp giới, không đâu chẳng có, không đâu chẳng ở, một hô vạn ứng, gồm thâu muôn pháp nơi một Tâm này. Vì không liễu ngộ Tâm này, nhận tâm cá biệt làm ngã, từ cái ngã này hình thành mọi khổ đau và nỗ lực cầu tìm hạnh phúc đều không có chi là chân thật cả. Vì nhận lầm cái ngã “kiến văn giác tri” này mà thấy có xuất có nhập nơi than thức tức ngã cá nhân (ngũ uẩn thân) và cũng thấy có các pháp có sinh có diệt, có thời gian không gian cần phải thoát ra hoặc làm sao để khỏi ràng buộc. Nhưng tất cả đều sai lầm từ đầu, từ một niệm căn nguyên không chánh giác. Biết được cái ngã vô thường này vì không tự tính mà thực tướng của tâm pháp được khai mở. Các pháp như thế này như thế kia là vì chúng không có tự ngã nào cả, điều đó nếu thực sự thấy biết như thê thì cái chân tính của vạn pháp liền ở đó, tức xưa nay không tịch, bất sinh bất tử. Phật vẫn “ở đó” trong mọi tâm thức sai biệt, trong mọi cảnh giới chập chùng … Nhận biết như thực mọi tâm mọi cảnh như thế mà vẫn như như bất động thì đích thị là Phật rồi, không cần dẹp vọng hiển chân nào khác. Khi tâm thanh tịnh biết tâm thanh tịnh, khi tâm bất tịnh biết tâm bất tịnh, khi tâm giải thoát biết tâm giải thoát thì đó là Phật rồi, Phật không động không tịnh không ràng buộc không giải thoát do đó nói không ai biết được “y” mà dấu “y” một điểm cũng chẳng được, không gì “y” chẳng thấu thoát một cách rốt ráo. Tìm “y” chẳng được, vì “y” bất biến tùy duyên, tùy duyên nên biết có. Biết có, là xong việc ! Như thế thì cái không sinh không tử chẳng là đâu khác, chỉ ngay nơi thực sinh thực tử này mà thôi. “Khi đói ta ăn, khi mệt ta ngủ”. Chỉ vì không như thế nên ăn ngủ trong mộng, nơi mộng muôn cái không mộng, muôn cái ngủ không mơ, ăn không chạm hạt cơm … được chăng ? Chỉ là một cuộc chiêm bao khác ! Vì mê nên có pháp, không thể thấy Phật, Phật cũng chẳng chỗ thấy. Biết mê cũng là mộng, vì thực chẳng có mê. Biết tự tánh tự độ chăng ? Tức xưa nay vạn pháp tịch diệt, đâu cần thêm Phật bớt pháp làm tăng. Nhưng cũng chẳng phải ngược lại là được. Vì dù có xuôi ngược mau chậm chìm đắm vượt thoát … như thế nào đi nữa cũng không ra ngoài bàn tay của Như Lai tức tự tánh tự độ vậy.

Tự giác giác tha giác hạnh viên mãn, tam thân tứ trí … đều chỉ là một cái “ngộ”. “Ngộ” thì mới “thấy” Nhất chân pháp giới là cái gì, mười phương cõi Phật là cái chi, pháp pháp bổn vô pháp là thế nào … không có hạt bụi, “thùng sơn” … nào chẳng được “độ”, chẳng được khám phá ! Chúng sinh cùng chư Phật đều cùng một Tự tánh không tánh, vạn pháp đều không tánh, ngộ nhập không tánh tức đại niết bàn tức Như thực tánh pháp không, dù ngộ hay mê pháp tánh vẫn như thị. Kinh nói : “Sinh tử niết bàn như mộng huyễn. Nếu có pháp nào cao hơn thế, thì cũng là huyễn !”. Huyễn tức duyên khởi không tánh vậy! Cho nên tất cả đều giải thoát mà quên, lại đi tìm giải thoát hoặc không biết có sự này. Khổ thay ! “Huyền chi hựu huyền” là vậy đó ! Nói suốt, ba a tăng kỳ cũng không hết. Ngộ một cái thì khảy móng tay liền nói xong ! Bởi sao ? Vì không chi ngoài Tự Tâm không tịch, Tự tâm bất biến, Tự tâm tùy duyên, Tự tâm trùm khắp …

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM
• Quán sát khắp mười phương tam thế không đâu là chẳng khổ vì vọng tâm sinh diệt mà phát Bồ đề tâm.
• Quán sát khắp pháp giới dù chúng sinh mê hay chư Phật giác ngộ không rời lìa Nhất tâm chân như mà phát Bồ đề tâm.
• Quán sát chúng sinh tánh cùng Phật tánh không một không khác mà phát Bồ đề tâm.

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM LỰC
• Nhận lấy chúng sinh tính làm tâm mình để được nhất thiết chủng trí tùy thuận thiết lập phương tiện thiện xảo.
• Nhận lấy Phật tính làm tâm mình để được trí lực quảng thâm hoằng viễn của mười phương Như Lai viên mãn công đức tùy nghi hóa độ tự tại.

PHÁT BỒ ĐỀ TÂM NGUYỆN

1. Nguyện đời đời kiếp kiếp ở trong Phật Pháp Tăng.
2. Nguyện độ tận chúng sinh thành Phật rồi mới thành Phật.
3. Nguyện khi thành chánh đẳng chánh giác, nếu có chúng sinh thấy hình nghe tiếng một lần danh hiệu của đức Phật này cũng được sinh sang nước đó.
4. Nguyện khi thành Phật, quốc độ đó không có chúng sinh khổ sinh lão bệnh tử, không có ngoại đạo tà giáo mà chỉ toàn là bậc Thập tín cho đến Thập địa, diệu giác đẳng giác Bồ tát chung cùng sinh hoạt làm lợi ích mình, người trong mười phương quốc độ khởi niệm tùy hỷ là thành tựu công đức viên mãn.
5. Nguyện khi thành chánh đẳng chánh giác tùy niệm phân thân vô số vô lượng khắp thập phương tam thế trải thần đủ mọi hình hài làm lợi ích chúng sinh bất khả tư nghị, bất khả thuyết.

• Nói tóm :
Lão gia trùm mền ngủ
Không thấy Phật chúng sinh
Mở mắt liền nhìn thấy
Nhắm mắt cũng thấy liền
Đâu từng thấy chẳng thấy
Biết pháp từ tâm sanh
Chỗ nào chẳng tâm pháp
Xưa nay là Đạo tràng
Không tâm cũng không pháp
Như trăng tròn bát nhã
Ảnh hiện bóng hình mình!

TỪ AN  : 01275934607
Viết để nhớ về một giấc mộng!

 

“Hoàng hôn cơn mộng tháp tùng
Từng vô duyên gọi bóng nùng diễm qua”
BÙI GIÁNG

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *