TIẾNG CƯỜI LẶNG LẼ

Ngày mai tôi sẽ làm lại từ đầu, tôi làm lại đời tôi một cách khác, nghĩa là tôi không còn đi lên hay đi xuống nữa, cũng không đi ra đi vào, mà nên đứng yên một chỗ nào đó, cố chấp vào một thời gian nào đó. Nhưng ngày mai không bao giờ có thực, ngày mai không đến bao giờ. Tôi chịu thất bại trước ngày mai. Bây giờ đầu óc tôi đang táy máy với bao nhiêu chương trình kế hoạch cho ngày mai, đồng thời với bao nhiêu là kinh nghiệm sống chết từ quá khứ. Tất cả dường như sống dậy một lần trên mỏm đá cheo leo của hôm nay chực hờ nhảy vào tương lai. Tôi cố tình nhìn thẳng trước mặt, nhìn thẳng vào tương lai, nhưng ngày mai luôn luôn là đêm tối vô tận. Quá khứ là những trang giấy đầy chữ, tương lai là những trang giấy trắng trinh nguyên, hiện tại tôi đang viết gì ! Hiện tại là cái khó hiểu nhất, người ta chỉ có thể nói về quá khứ hoặc tương lai, nhưng không bao giờ nói về hiện tại được. Hiện tại, giờ đây tôi đang khai bút cho một tác phẩm lấy tên là Tiếng Cười Lặng Lẽ. Không biết vì sao tôi lại chọn cái tên này, cái tên này nó hấp dẫn tôi từ khi tôi đứng trước biển. Tôi thường ngồi một mình trên bãi cát vẽ một cái vòng tròn (O) rồi lại vẽ thêm một vòng tròn khác giống như hai kẻ yêu nhau ([), hai cái vòng tròn này nó mãi ám ảnh tôi suốt hai mươi năm nay. Hai mươi năm nay tôi đã viết đời tôi như vẽ hai cái vòng tròn này trên bãi cát, nước biển lại ùa lên bôi xóa như tôi đã bôi xóa từng trang giấy trắng. Ngày mai và Hôm qua, chỉ có thế. Đời người, chỉ có thế, chỉ có ngày mai và hôm qua. Còn hiện tại thì không thể nắm bắt được, mặc dù con người đang cư lưu tự tại nơi hiện tại, cái giờ đây ! Chẳng phải con người, mà toàn thể vũ trụ lớn nhỏ, sinh và diệt, đã và sẽ đều đang cư lưu tự tại nơi cái giờ – đây – toàn – mãn ! Nhưng vì sao tôi lại kéo đời tôi về quá khứ và nối tiếp đến tương lai ? Vì sao tôi có ngày mai, có hôm qua mà chẳng là bây giờ ? Tôi chịu thất bại trước ngày mai như người ta không thể xóa bỏ, sửa đổi quá khứ; người ta chỉ tạo lập ý nghĩa cho quá khứ cũng như cho tương lai theo thể lệ nào đó nhưng không thể đánh đổ được quá khứ lẫn tương lai. Ngày mai tôi có thể thế này thế nọ, nhưng tôi thế này thế nọ ở tương lai luôn luôn là cái giờ đây tôi thế nọ thế này. Quá khứ và tương lai về thành tựu nơi hiện tại, nhưng hiện tại không bao giờ hoàn tất, nếu nó hoàn tất ắt hiện tại sẽ đứng yên, chết cứng như một hữu hãn ù lì, vô nghĩa, hư không. Hiện tại thành tựu nhưng không bao giờ hoàn tất mà toàn mãn, vì bất khả tri lượng mà xác quyết; vô cùng và chẳng phương sở. Làm sao tôi có thể nói được cái giờ đây ? Cái giờ đây không thể nói được thì quá khứ và tương lai nếu nói được chỉ là nói mớ nơi hiện tại. Nói mớ nơi hiện tại tức hiện tại như là một giấc mộng chứ chưa phải là một Thực Tại. Thực Tại của cái giờ đây là gì ? Là một giấc mộng chăng ? Là cái như thế này như thế nọ mà chẳng là cái gì có thể nắm bắt được ? Một giấc mộng hoàn toàn Tỉnh Thức ? Thế thì ngày mai mở ra vô hạn không còn có đêm tối và ngày sáng mà chỉ là một sự Tỉnh Thức của Vô Biên.

Ÿ

Đã xong rồi, nghĩa là đang như thế mãi mãi. Tất cả là Đạo, không có gì là chẳng phải Đạo. Chỉ vì chưa trở về với bổn lai vô vật nên mọi hiện thể bị chia lìa thành các cảnh giới, thân và tâm tùy thuộc nhơn duyên mà huyễn hóa. Trở về, tức Tỉnh Thức Vô Biên thì mọi nhơn duyên huyễn hóa là pháp lạc, là thực tướng, đại dụng của Đạo. Chưa đạt Đạo, chưa chuyển mê thành ngộ thì các pháp là hai, là sum la vạn tượng, một sự thực của khổ đế. Tỉnh Thức khổ đế, tức khổ đế cần biết như thực thì khổ đế là Diệt đế. Trong mê có thiện có ác, có pháp cùng phi pháp vì tâm thức tạo tác trôi lăn theo mọi cảnh giới đến khi biết được nguồn gốc, chỗ phát khởi thì mọi động hành đều là Trung đạo, thời Trung. Tỉnh thức tức không hai, chủ thể và đối tượng không còn, một giòng sống vô tận rực sáng vô thủy vô chung. Không cầu gì cả, không là gì cả mà có tất cả, có tất cả cũng không là gì cả vì không cầu gì cả, chẳng thêm chẳng bớt, tha hồ mà chọc trời khuấy nước. Chỉ an trụ nơi vô tướng vô trụ vô niệm thì làm đen ra trắng, làm giả hóa chơn, tại đây mà không nơi nào chẳng ở. Chơn không chẳng phải có chẳng phải không, chẳng tạo tác mà được cũng chẳng không tạo tác mà được, vì chính mi là chơn không. Nếu muốn chơn không, đi tìm chơn không, đạt tới chơn không ắt chẳng thể được. Vì mi đang là thế, mi là chơn không ! Mi không còn phải muốn gì, tìm gì, đạt gì vì cái mà mi tìm đạt đã chính là mi từ vô thủy cho đến vô chung. Bổn phận của mi, bổn phận duy nhất là biểu lộ chính mi như là thể, như là chơn không thường trụ ở nơi mi, ở khắp cả càn khôn vũ trụ. Chỉ có cái ấy, cái ấy chẳng gì là chẳng phải chơn không. Dù mi có bày đặt đời mi thế nào đi nữa cho tới tương lai vô tận quá khứ vô biên mi cũng chính là cái ấy, cái mà mi đang là thế, là chơn không ngoài mọi sự bày đặt, trò đùa mà mi muốn hay chẳng muốn, mi vui hay bị trôi lăn. Ngoài mọi nỗ lực, khổ luyện, truy cầu … mi là chơn không ! Rời bỏ mọi cái mà mi đang khổ luyện, truy cầu, nỗ lực, ôm ấp … mi chính là cái ấy, chẳng thêm chẳng bớt, tha hồ mà làm bổn phận chơn không, mi là gì hay không là gì… mi cũng là chơn không. Thực Tại đang là chính mi và khắp cả quanh mi, không ở trong ở ngoài. Đại an lạc luôn luôn chúc phúc mi, mi chính là Đại an lạc ! Không có tương lai và quá khứ, chỉ nơi đây bây giờ đầy đủ của quá khứ vô thủy và tương lai vô chung, dù ở đây hay ở kia, chết hay là sống, mi vẫn là Vô Biên Mãi Mãi. Cuối cùng, chỉ có một điều duy nhất mi cần phải biết rồi vứt hết đi : Ấy là không có mi, không có vũ trụ, thiện ác, trời cao đất thấp v.v… gì ráo, chỉ có cái chơn không là Thực Tại, Thực hữu. Mi là Thực Tại, chơn không, Thực hữu … và tất cả là như thế. Nếu mi còn nghi ngờ hay giữ lấy điều này làm sở đắc, ắt là mi chưa Trở về với Bản thể Chơn thực mi, thì mi vẫn lạc vào sáu nẻo ba đường mà tìm kiếm khổ đau, mộng mị. Nhắc lại, không có cái này cái kia, không hiện hữu hay chẳng không hiện hữu, không là gì cả, không làm, không biết, không cầu, không không hết thảy, mi chính là Thượng đế vô biên, mi đang đụng vào cái bàn ấy là mộng đó, phải bảo cho mi biết là mi đang đụng vào Thượng đế. Thượng đế đang là Thượng đế khắp cả trong ngoài nên Thượng đế chẳng còn có trong ngoài. Tỉnh mộng rồi là Thực, Thực không khác mộng, nhưng không gì là chẳng Thực.

Ÿ

Tôi vừa nói gì ? Tại sao cái vòng tròn ([, O) ấy cứ mãi ám ảnh tôi ? Tại sao tôi chỉ nói đến cái vòng tròn này ? Có thể nói được chăng ? Bất khả tri lượng là gì ? Hôm nay là ngày của Đức Đại Bồ tát Văn Thù. Tôi muốn gọi sự im lặng của Ngài là bất khả tư nghị. Sự im lặng mà dù tất cả mọi vũ trụ nổ vỡ cũng không thể diễn đạt được huống nữa vài lời vớ vẩn này. Cái chẳng đến chẳng đi không hề thêm bớt hay bị khuấy động bởi việc đi đến cho nên mọi đến và mọi đi được vui vẻ lộ bày, nhảy múa, hát ca … vì Thường Trụ.

Ÿ

Dù có bị khuấy động hay không bị khuấy động, ô nhiễm hay không ô nhiễm… cũng không có gì dính líu đến cái bất sinh bất diệt. Tôi chính là cái bất sinh bất diệt như thế, ngoài ra chỉ là bóng dáng ảnh hiện tôi trong vũ trụ này.

Ÿ

Không có điều cấm kỵ nào chẳng thể vượt qua, không có tội lỗi nào cả nếu tấm lòng của mỗi chúng ta không cảm thấy sự khổ lạc lại qua trong từng sắc tướng, niệm tưởng. Chỉ vì chúng ta cứ tưởng rằng chúng ta dính líu vào tất cả mọi sự hay tất cả mọi sự chẳng phải từ ta nên chúng ta mới dính mắc vào vô thường phiền não vậy. Những gì có sanh có diệt chẳng phải là ta nên ta an trụ trong chơn thường mà sáng soi vạn hóa.

Ÿ

Không được gì cả ! Quá khứ vô lượng vô biên cũng chính là vô biên, tôi đã làm điều này việc nọ, suy nghĩ thế này thế kia, nói ra những lẽ này lý khác … Tương lai cũng như thế. Nhưng dù quá khứ hay tương lai tôi có là gì đi nữa thì vẫn vô sở đắc. Vì hiện tại vô biên là cái vô sở đắc, quá khứ tương lai là cái hiện tại vô sở đắc đó, luôn luôn là hiện tại, một hiện tại không còn thuộc về quá khứ hay tương lai mà là chỗ biểu hiện tương lai và quá khứ bằng cái không được gì cả, tức cái Vô Biên, Bất Nhị. Nếu hiện tại mà có sắc tướng tâm niệm nào thì chưa phải là hiện tại, mà chỉ là quá khứ và tương lai được biểu lộ trong cái ảo tưởng đắc đạt cái gì. Cái gì đắc đạt được đó chẳng phải là cái hiện tại vĩnh cửu, không sở cầu, không dính mắc, không trắc lượng, không phải có không phải không … Cái gì đắc đạt được đều là tướng niệm sinh diệt tương tục chẳng phải hiện tại miên trường vô thanh vô tức. Cái vô ngấn tích, vô căn để là cái hiện tại bất khả đắc nhưng nó luôn luôn là như thế để diễn đạt hình tướng biểu hiện nơi quá khứ hoặc tương lai … Chỉ có nó là chân thật vì nó không có tâm niệm tướng trạng, nó chiếu soi khắp hiện tại quá khứ tương lai mà không có phân ly chia lìa bởi thời gian dài ngắn cao thấp thanh trược … Nó, hiện tại vĩnh cửu, không có hiện thể mà là Thực Thể của mọi hiện hữu khắp vũ trụ. Nhìn thấy và an trụ nơi nó, chúng ta xả buông mọi mọi phiền não, trầm tịch, vô ký. Như hư không vẫn trong ngần vô ngấn dù mọi mọi vật thể phá lập chuyển động … mà mọi vật thể nếu chẳng có hư không làm trường sở ắt cũng không thể hiện hữu tồn lưu trong hư không. Hiện tại, Thực Thể cũng như vậy. Tôi là như vậy !

Ÿ

Tại sao mọi chúng ta đều thèm khát cái như ý, mà sợ hãi mọi điều bất toàn ? Phải chăng chúng ta đã tách lìa chúng ta ra khỏi vũ trụ để thiết lập mình như là một bản ngã, một vũ trụ khác đối lập để rồi mong tìm đồng hóa hay thực hiện hợp nhất ? Thật là điên đảo và phù du, ảo hóa. Chúng ta nghe bản hòa âm và thấy siêu thoát nhưng chúng ta liền phê phán khi nghe một nốt nhạc rời, một âm thanh hỏng. Một âm thanh hỏng trong bản hòa âm mà chúng ta thờ phụng, hân hoan nó không bao giờ là hỏng cả nếu chúng ta không tách rời khỏi bản hòa âm; lỗi ở chúng ta muốn phân tích, chiếm hữu, tìm hiểu … chứ chẳng phải lỗi ở một âm thanh nào trong bản đại hòa nhạc. Sở dĩ chúng ta tin có địa ngục vì chúng ta tin có thiên đường, nếu chúng ta không tin gì cả cũng không tạo tác thêm gì cả từ trong tâm niệm đến ra ngoài sắc tướng ắt chúng ta không còn thấy có ta là kẻ mà đã từng hay sẽ ra vào nơi thiên đường, địa ngục. Mọi sự bày đặt từ nơi chúng ta chứ thực thể của sự bày đặt không có chỗ trụ. Nếu chúng ta chứng ngộ được vô niệm thì mọi niệm tưởng đều là chánh niệm, nếu chúng ta nhìn thấy sự bày đặt của chúng ta là KHÔNG, thì sự bày đặt của chúng ta sẽ không quấy nhiễu chúng ta nữa, bản thể và hiện tượng không phải một không phải hai thì đâu là người thọ trì khổ đau và không có niết bàn nào để chứng đắc. Chân lý chỉ là chân lý khi có cái phi chân lý như là một phản động với chính tự thể nó mà thôi. Mọi mâu thuẫn sẽ không hiện hữu khi nhìn thấy thực tướng của mọi sự không phải hai mà chỉ là sự vui đùa của cái duy nhất, cái chân như thực hữu hơn là mọi ảo tưởng, sắc tướng của người mê. Con người hay thiên thần ác quỷ, con chó hay cái bàn cái lá, cõi Phật hay cảnh ma đều là chỗ diễn bày pháp lạc của cái chơn như duy nhất thực hữu, vì đánh mất trò đùa, quên lãng cuộc bày đặt chúng ta đi tìm giải thoát mọi phiền ưu theo giọt lệ, nụ cười. Như người nằm mộng, đến khi tỉnh thức liền hỏi chẳng biết là lỗi ở mình hay lỗi ở mộng, nhưng dù lỗi ở tâm hay cảnh cũng chỉ là sự nhìn thấy lại cái sai lầm đã qua, từ nay mọi cái sai lầm chẳng còn dính líu gì đến cuộc thức cả.

Đừng sợ mất, cũng chẳng sợ còn; vì còn mất, tử sinh … chỉ là một chút mây nổi không chỗ trụ. Muốn còn thì còn, muốn mất liền mất, còn mất chơi trò xoay vần biến hóa chẳng dứt, nhưng muốn dứt thì liền dứt, chẳng ngại, không gốc rễ. Cầu thoát khổ ư ? Cầu chính là khổ rồi, vô cầu thì liền vô niệm, vô niệm thì vô tướng, có chỗ nào để nương tựa ? Có chỗ nào để thủ xả, dọc ngang ? … Tìm hiểu mình ? Tìm hiểu người ? Tìm hiểu vũ trụ, chân lý ? Tìm hiểu là gì ? Ai tìm hiểu ? Cái tìm hiểu là cái chi ? Khéo vẽ chuyện. Khởi tâm động niệm nói đông nói tây, nói phải nói trái, nói Phật nói ma cũng đều là lưu chuyển phiền não. Một niệm không sanh ở trong địa ngục thiên đường như ở chỗ không nơi, thời gian triệu kiếp không ngoài nhất niệm. Kiếp này thành Phật hay muôn kiếp sau thành Phật ? Phật là Thường Trụ, không thể thành ở kiếp này hay kiếp khác, ngay chỗ này buông bỏ tình thức còn hỏi thành hay không thành làm gì ? Triệu kiếp hay không kiếp nào khác ? Cảnh này hay cảnh khác đâu ngoài tự tâm tự chứng ? Tự tâm tự chứng là cái gì vậy ? Nói được biết được liền mất, liền rơi vào vọng tưởng. Tĩnh lặng mà ứng hóa, ứng hóa tức là tĩnh lặng, không có hai, không có một. Tám vạn bốn ngàn pháp môn là cái gì ? Một đại sự nhơn duyên thôi. Một đại sự nhơn duyên là cái gì ? Pháp không ? Lắm điều nhiều chuyện cũng chỉ để tô vẽ về cái không thể tìm hiểu, không phải bí mật, không phải tướng trạng. “Không phải” tất cả mọi sự là “phải” ư ? Có thể nắm cả vũ trụ trong lòng bàn tay chứ? Một sợi lông gồm đủ trăm ngàn thế giới vào ra sinh diệt chứ ? Cái gì vậy ? Cái vô hạn là cái gì vậy ? Có thể hỏi, có thể đặt tên ư ? “Cái ấy” cùng với muôn sự có khác chăng ? Mê ngộ khác nhau ra sao ? Khác nhau là sao ? Ngoài các khác và không khác thì có cái gì ? Nhứt tâm là gì ? Vì sao có động có tịnh ? Động tịnh có thật chăng? Thực thể của động tịnh là không thực thể, không thực thể mà biểu lộ động tịnh. Thực thể, thực hữu, thực tại là gì ? Không có một pháp để diễn bày thì muôn sự có gì không bình đẳng chăng ? Bình đẳng là như nhất chăng ? Như nhất là như thực của vạn pháp ư ? Vạn pháp như thực vì hết mê lầm thực tướng của vạn pháp phải chăng ? Hết mê lầm, thì thôi vọng tưởng, vọng tưởng là vô minh, vô minh vì mê lầm các pháp có thực thể, có căn nguyên, gốc rễ …? Chẳng sanh chẳng diệt, chẳng đoạn chẳng thường là chỗ Thường, Lạc, Ngã, Tịnh …? Không có một pháp là chỗ tự do tự tại để muôn pháp lưu xuất lại qua. Chẳng phải tướng, chẳng phải không tướng là chỗ chánh định an lự. Vô niệm là chánh niệm vì hữu và vô không phải một, không phải khác. “Hư không đặt để nên lời”, “Thoa này bắt được hư không” …? Các pháp là nhơn duyên. Biết các pháp là nhơn duyên nên ở chỗ nhơn duyên mà chẳng dính mắc, cái Biết ấy như hư không chứa đựng vạn tượng, là trường sở trụ của hữu tình và vô tình. Vạn pháp không rời hư không, hư không cũng chẳng ngại vạn pháp. Chơn tri và thức tình cũng vậy. Biết mà không năng tri sở tri, nếu có năng tri sở tri thì là nhơn duyên sanh diệt, tức vô thường, vô ngã, khổ, không là tình thức lưu diễn. Đại khái thì vì chúng ta là Sự thật, vì chúng ta là Vô biên nên chúng ta vừa sở đắc sở trụ cái Sự thật, Vô biên nọ làm của mình nên Vô biên hay Sự thật nọ liền tan biến thành Bản ngã mình, tức dục vọng và tư tưởng. Từ đó chúng ta quên mất cái vô biên, chúng ta lãnh thọ mọi cái như trong màn huyền ảo, vô minh. Cuộc đời trở thành tù ngục và chúng ta trong cái hữu hạn tự mình ràng buộc, biểu hiện … lại đi tìm về với vô biên bằng tất cả nỗ lực hữu hạn của mình. Nếu biết được mọi hữu hạn và chính mình là sự thể hiện của những hữu hạn nỗ lực đó, chúng ta không đi tìm nữa, chúng ta liền tan biến, bản ngã và thế giới không còn, chúng ta lại trở về với sự thật, vô biên. Cũng là cái Biết đó, biết sai thì nên hữu hạn trầm luân, chánh giác thì vô biên pháp lạc. Mọi sự đang xảy ra và đã xảy ra rồi vậy ! Tức vô tâm, vô trụ pháp tướng mà vạn pháp đặng nên. Nắm vô biên trong lòng bàn tay ! Mười phương tam thế trôi nổi trong lòng sự thật ! Vài câu kinh Phật :

“Pháp trụ pháp vị

Pháp nhĩ như thị

Phi hữu phi vô

Tức phi tức thị”.

Mở mắt ra liền thấy xấu tốt, cái này cái khác. Khổ thay ! Nhắm mắt ngủ liền thấy mộng mị, bất tỉnh. Khổ thay ! Có một chỗ thực sự an nhàn, tỏ rõ. Biết chăng ?

Chỉ vì thủ trước mà các pháp sanh diệt, mâu thuẫn, dị biệt. Tâm vốn không, chỉ vì thủ trước nên tâm thành tướng đối lập có trong có ngoài lưu ngại nhau. Tự tánh của Tâm pháp nhất như, không chỗ sở y, chỉ vì có sở đắc mà thành hai. Biết tâm pháp không hai, thì mọi mâu thuẫn dị biệt liền không còn chướng ngại, vạn pháp tự do tự tại vận dụng động hành như thực vì không có năng sở. Chúng ta ở nơi sắc tướng (thân tâm và thế giới) chúng ta lấy năng sở mà ứng đối nên có cái tâm đối tượng, từ tâm ứng đối này chúng ta có cái tâm truy tìm, từ tâm truy cầu chúng ta có cái tâm biến hóa, thủ xả, từ tâm biến hóa này chúng ta có cái tâm quyết định chấp trước. Cái tâm quyết định này dẫn dắt ta đi vào mọi sắc tướng sai biệt và cứ như thế làm thành một cái vòng lưu chuyển mà trung tâm là bản ngã sanh tử của chúng ta. Nếu chúng ta biết tâm và cảnh chỉ là một, thì sắc thọ tưởng hành thức sẽ thôi dứt, nghĩa là chúng không là chủ ngã nữa mà là giòng vận hành vô tướng biểu hiện. Chúng ta không còn ở bên này hay ở bên kia của đôi bờ sinh tử nữa mà là pháp thân không chỗ trụ. Pháp Pháp không gì chẳng phải Phật; Phật Phật không ai là chẳng phải pháp. Toàn Thể là Dụng, và Dụng tức Thể Tánh của vạn hữu, Nhứt Như.

Không tham không sân thì không có si, không si thì tham và sân (tức hai pháp, vạn pháp) đúng thời phải chỗ, tức là tùy theo chánh pháp mà thọ dụng. Bồ đề không có chỗ chứng đắc, phiền não cũng chẳng có chỗ an lập, tất cả vốn là chơn tâm thanh tịnh; Tuy vậy, chỗ chơn tịnh này đầy đủ cả muôn pháp, không pháp gì chẳng phải chơn pháp, chỉ cần quay đầu lại sau khi biết mình đã đi sai hướng đông, tây thì mê và ngộ chưa từng thực có, bây giờ đông là đông mà tây là tây, tùy nghi đi đứng lại qua không còn lầm lộn phiền ưu dong ruổi nữa. “Chư Phật ra đời hay không ra đời các pháp vẫn như thế”. Ngàn Thánh chỉ là người chỉ hướng, tự mình đi đứng ngồi nằm sau khi đã định hướng bình an. Bình đẳng mà sai biệt, bản đại hòa tấu gồm đủ mọi sắc thái riêng biệt của mỗi mỗi âm thanh độc lập, tự do mà làm nên hòa điệu hạnh phúc. Cái bàn là cái bàn, cái ghế là cái ghế, sự tương quan trong thế giới hiện tượng được sáng tỏ bởi vì mình là kẻ vô sự, vô tác. Sống chết như đi ra đi vào nơi ngôi nhà Thái Nhất, đâu có chi được gọi là thường còn, đoạn diệt. Chỉ không mê lầm một lần là đủ ! Tâm và cảnh, chủ và khách thầm khế hợp thì đâu còn cái gì, vấn đề gì nữa đặt ra, bày ra như tâm, cảnh, chủ, khách v.v… chẳng hạn ? Nơi tâm không kẹt, nơi cảnh không ngại tha hồ dạo chơi tự tại nơi cõi bờ sanh tử, mà sanh tử là cần như người lái xe thì có xe để lái. Thế thôi là vậy thế thôi !

Ÿ

TUYỆT ĐỐI KHÔNG CÓ GÌ KHÁC, NGOẠI TRỪ CHÍNH MÌNH.

Ÿ

Nếu có cái gì khác, thì cũng là chính mình. Khi mình là chính mình thì không còn gọi là mình nữa. Thường trụ. Thường trụ chẳng phải thường chẳng phải đoạn, chẳng phải sanh chẳng phải tử, chẳng phải bất sanh bất diệt …

Ÿ

Tất cả mọi sự đều hay. Nếu thấy có hay có dở là vì tưởng rằng cuộc đời này là thật. Vì tất cả trần gian là huyễn mộng cho nên hay, khi thấy tất cả đều hay thì tất cả đều là thật. Nghịch lý mà là chơn lý ! Cái gì là mộng ?

Ÿ

Tùy tâm hiện. Không tâm thì cái gì hiện ? Như mất mà không mất, như còn mà không còn. Đầy đủ không thừa không thiếu mà không một vật. Không một vật có thể được. Vật tức sự tình !

Ÿ

Đời sống không khi nào bị bế tắc. Tôi bị bế tắc là tư tưởng bế tắc chứ chẳng phải đời sống tôi bế tắc. Tư tưởng Tây phương hiện nay bị bế tắc là do công lao của Heidegger giới thiệu tư tưởng là bế tắc. Sau Heidegger không còn tư tưởng gia nào nữa. Thi ca và tư tưởng Việt Nam đã mở ra và khép lại bằng bước đi của BG như Heidegger đã mở ra bằng con đường khép lại Tư tưởng Tây phương. Con người tương lai có chịu ca hát nhảy múa nơi Hố thẳm vốn là trường sở trụ của chính mình ?

Ÿ

Biết mình thì tự do với chính mình. Biết mình từ đâu đến, đi về đâu, trụ xứ thế nào … thì tha hồ biểu lộ mình mà không có chi là mình trong đó. Đời sống là như thế. Có cái gì khác như thế thì cũng như thế !

Ÿ

Uống trà ngon hay dở tự biết chứ ? Nhưng muốn uống nữa hay không muốn uống nữa thì uống trà trở thành vấn đề rồi. Vấn đề là dục vọng, dục vọng là tư tưởng và tư tưởng tức sinh tử luân hồi, Chén ly ở trên bàn tạm gọi là một pháp, chén ly rớt xuống đất bể tan là một pháp tạm gọi; Sau và trước chẳng hề liên quan sinh diệt, sinh diệt liên quan trước sau là từ tâm khởi. Tâm khởi mà không thực, vì tâm như huyễn nên pháp cũng lại như vậy. Tâm và pháp không có chỗ trụ. Không có chỗ trụ cho nên mê và ngộ cũng chỉ tạm gọi. Uống trà ư ? Ngon chăng ? Dở chăng ?

Ÿ

Mệt và buồn. Thân xác luôn luôn động đậy vì tâm trí luôn luôn chấp trì đối tượng. Ngủ cũng như thức, hoàn toàn lưu chuyển. Trời đất không bao giờ dừng ? Âm dương không khi nào thôi biến hóa, tạo tác. Bên trong cũng như bên ngoài, ngã cùng sở ngã chỉ là một hiện tượng sinh diệt. Vì có sinh thành nên có hoại diệt. Nếu là sinh, thực là sinh thì quả nhiên vô sinh, thành hoại diệt nếu thực là thành hoại diệt ắt vô thành bất diệt … Nhưng có cái gì cứ nối tiếp, tương tục từ pháp này sang pháp nọ, từ đời này sang đời khác … nên vạn pháp dường như vô thường, huyễn mộng, chưa từng tự chủ. Cái ấy là cái gì thế ? Cái gì tương tục tương tác tương quan ? Cái gì đến rồi lại đi, cái gì tịch lặng, cái gì mù mịt, cái gì bất tỉnh nhơn sự ? Một giấc ngủ say sưa không còn biết mình sống chết thế nào, đùng một cái thức dậy vẫn y như ngày nào. Cái ấy, tưởng như mất mà chẳng mất, tưởng như còn mà chẳng còn, không có trụ xứ mà có chỗ đến chỗ đi. Không trong không ngoài, không thường không đoạn… mà hiện có đoạn, thường, vũ và trụ.

Thân xác luôn luôn đổi mới, sinh và diệt, tìm kiếm thích nghi, quân bình. Tinh thần cũng như vậy. Tâm trí luôn luôn tìm kiếm cái mới lạ và thường hoài niệm về những kinh nghiệm đã cảm thọ, nên tâm trí luôn luôn kiểm thảo và kiểm chứng để xác định bản ngã mình hầu tạo tác bản ngã khác. Nhưng dù làm gì đi nữa thì cái mới lạ của tâm trí vừa sở đắc được lại rơi vào sự cũ kỹ, lập lại, trống rỗng không thể chịu được. Tâm trí bèn thấy tất cả đều phi lý, bất lực vì dù bản ngã nhỏ hẹp hay rộng lớn cũng chỉ là sự tưởng tượng của tâm trí. Tâm trí nếu không tự chết đi thì không có ngày phục sinh, và như vậy cuộc đời trở nên lẩn quẩn, sinh và diệt đắp đổi thay thế cho nhau từ không – thời này đến vũ trụ khác, từ ý hệ này đến ý hệ khác. Tâm trí chết đi không có nghĩa là vứt bỏ một cái gì, như vứt bỏ tình niệm, tư lương chẳng hạn, vì sự vứt bỏ cũng là tư tưởng; chỉ cần đặt lại vị thế của cái bàn là cái bàn, cái ghế là cái ghế, cái nào ra cái nấy, to nhỏ đúng chỗ đúng thời, trước sau không lầm lộn thì tâm trí liền yên định, tự do mới được diễn bày trong mọi sự mà không mang một dấu vết nào của vô tưởng, phi tưởng hay tư tưởng. Niềm tịch lặng của tâm thức không phải vô niệm hay hữu niệm mà chính là sự duy nhất mà phân minh của động tịnh, sống chết, ngã và sở ngã, hữu tình và vô tình …

Chúng ta luôn luôn bị phân chia làm hai mảnh như đàn ông đàn bà là hai mảnh của một con người rồi chúng ta đi tìm sự hợp nhất của hai mảnh đó bằng tình yêu. Nhưng tình yêu nếu không được tỉnh thức thì đàn ông vẫn thiếu vắng và đàn bà vẫn cô đơn. Tình yêu là cái gì của khoái lạc và khổ đau, nên người đàn ông chưa thấy mình là con người trọn vẹn và người đàn bà cũng lại như vậy.

Tình yêu không phải là một tiến trình của dục vọng, và tiến trình này chính là tư tưởng, sản phẩm của tâm trí, kết quả của kinh nghiệm khổ, lạc. Tình yêu trọn vẹn là sự chấm dứt mọi tiến trình tức vọng tưởng hay là bản ngã giả tạo. Được như vậy, Tình yêu vượt thoát thời – không, người yêu và tình yêu không còn bóng dáng mà là sự thái hòa của mọi mâu thuẫn mà không mất vị thế của mâu và chỗ đứng của thuẫn. Quên và nhớ được nằm tròn trịa trong ký ức vô thủy vô chung. Ký ức đó lớn không gì lớn bằng, nhỏ không gì nhỏ hơn, chỉ vì thủ xả dòng vận hành của nó mà làm nên có người nhớ có kẻ quên.

Đạo hay Đời sống thật giản dị, vì nó chỉ là một, vì chỉ Thái Nhất nên nó chẳng vô tướng chẳng không vô tướng, chẳng động chẳng tịnh. Thức tỉnh được sự thực viên mãn này thì Đạo là một hay hai hay vạn sự muôn duyên chính là như thế, tức Đời sống sắc màu là một giọt nước trong veo. Chuyển y hay ngộ đạo thì vạn sự vẫn như thế, chẳng có chi được gọi là chuyển hay chẳng chuyển. Trước khi khám phá, tuệ giác vẫn chiếu soi mà chẳng biết, vì chẳng biết nên đi tìm căn nguyên và cứu cánh; sau khi khám phá thì tuệ giác vẫn soi chiếu mà được biết, vì biết nên mọi căn nguyên và cứu cánh đều sụp đổ. Vui, buồn không có lý do, mọi mục đích đều không phải là kết quả. Đạo tìm không thể thấy, ngộ không có chỗ chứng đắc, nhơn quả chẳng có gì chẳng trúng, duyên phần không có chi không sáng tỏ; tùy thời mà không xu phụ; ứng hóa mà chẳng mong chờ; thành hoại, nhỏ to, cao thấp … tha hồ bày lập mà không một niệm chấp trước, kiến thủ. Biết dây thừng chẳng phải rắn thì sử dụng dây thừng là dây thừng chứ chẳng phải sử dụng rắn, biết rắn chẳng phải dây thừng thì sử dụng rắn như sử dụng rắn chứ chẳng phải sử dụng dây thừng. Lo gì ? Nghĩ gì ? Lấy gì ? Bỏ gì ? Tìm gì ? Một chữ Đạo còn chẳng có huống hồ là một mộng tưởng. Tại đây, nơi đương xứ nhất niệm này, muốn sống thì sống, muốn chết thì liền chết, không dính líu đến tạo tác, chẳng trái chống với vạn pháp, đạo lý, chỉ kẹt có một điều là mình tưởng mình với vũ trụ là hai nên mình mới tạo tác mưu toan ba chìm bảy nổi sáu lênh đênh với cái sai lầm sinh vọng dục của mình, của người làm Đời sống đục ngầu thiên đường, địa ngục, ma, Phật … trái Đạo rất xa. Đạo lý tối thượng không có tạo tác không phải không tạo tác vì vô phân biệt đã hàm dung nhiếp thọ phân biệt rồi ! Còn đòi hỏi, cầu mong gì ? Mở mắt liền thấy có không, phải trái, sáng tối … nhưng mà cái chơn tri ấy nào hề dính líu chi đến cái này cái nọ. Nếu nó tưởng dính líu ắt nó sẽ lầm lộn vô thường tưởng thường, thường tưởng vô thường làm nên một cuộc luân hồi lủng củng khệ nệ đau thương nước mắt, nụ cười. Nhưng cái chơn tri ấy, dù nói nó dính líu hay không dính líu nó vốn vẫn là thế, một vật cũng không thể được, huống nữa là cái gì ! Một vật cũng không thể được nên nó có quyền mê, ngộ vì mê ngộ cũng chưa từng được chưa từng mất ! Chân thực tự do thì nô lệ có hề gì ? Vì nô lệ chẳng hề gì nên nó cũng là trường sở trụ của tự do chân thực, để chỉ chỏ rằng chân thực tự do là thực thể thực tướng thực dụng chứ chẳng phải ngoan không, vô nhơn quả.

Tự tâm chúng ta tạo ma tác Phật, nghĩ thiện tưởng ác, tham luyến thiên đường thù ghét địa ngục … Tư tưởng luôn luôn biến hóa đủ sắc màu hầu thỏa mãn dục vọng của bản ngã. Diệu dụng của Tự Tâm vô tận, không gì mà chẳng có, chẳng gì mà chẳng không … Chúng ta không biết Tự tâm có công năng như thế, chúng ta liền rời bỏ Tự Tâm mình để thủ trước hình bóng của tự tâm mà làm thiện làm ác, làm Phật làm ma, làm khoa học nghệ thuật, mê ngộ có hay chẳng có v.v… vô lượng vô biên sự kiến chấp như vậy để cho tâm trí có chỗ nương tựa, đạt thành … mà quên mất Tự Tâm Thanh Tịnh không có một pháp huyễn hay phi huyễn, ở nơi mọi sự, cùng với vạn pháp không đồng mà chẳng khác, cùng sinh mà không cùng diệt. Bóng dáng của Tự tâm tức tâm thức, toàn bộ bản ngã của một chúng sanh thì có những lường tính, những ứng đối, những sai biệt, những chung thủy … cho nên nó chẳng dừng nghỉ nơi chính nó mà nó chỉ có thể dừng nghỉ nơi Tự Tâm như là mái nhà xưa của nó mà sau một thời dong ruổi nó tìm về an trụ. An trụ tự tâm thanh tịnh như thế, nó ra vào lên xuống một cách tự do tự tại nên dừng mà chẳng dừng, mọi mâu thuẫn trước kia không còn lao đao, mê hoặc mà là chánh pháp. Nhơn quả ví như một cái máy, mà khi đã biết cái máy ấy thì tự do sử dụng và tự do với chính cái máy ấy nữa. Tri thiên mệnh thì mình muốn là Trời muốn, Trời muốn là mình muốn, vô ngã vận hành ! Vì sao mình lại sợ hãi cái mà mình tạo tác ? Mình sợ hãi việc ác mà cũng ham thích điều thiện. Thiện và ác … chẳng phải là mình tự vẽ ra để rồi đạt tới hay không đạt tới ? Mình tưởng mình là ma nên mình đi tìm Phật, tức là cái mà mình chưa thành, chưa biết. Sự sợ hãi từ những xung đột giữa cái đã biết và cái sẽ biết, cái đang là và cái không là, luôn luôn bất an như thế cho đến khi thấy rằng những đối cực là những ảnh ảo của Tự Tâm mình phóng hiện, thủ xả. Thiện ác nào có thực ? Chỉ vì phân chia giòng vận hành mà có ta và cái không phải ta, có thiện ác và cái không phải thiện ác… Địa ngục không có thực, tự tạo địa ngục để rơi vào địa ngục, thiên đường ở chỗ nào nếu không tự mình đắm chìm vào. Tưởng rằng có Phật rồi sợ hãi Phật vì mình tưởng như thế tức là ma, nên muôn sự mới lưu hành diễn xuất một cách đau thương như thế.

Không có hai, tức không có cái tương đối; cũng không có một, tức không có cái tuyệt đối. Đạo, đời, Tâm, vật … nào có thực; chỉ vì mình tưởng như vậy, muốn như vậy nên nó như vậy thôi. Một niệm không sanh thì gọi là gì ? Gọi là gì cũng chẳng được, vì như thế tức đã sinh tử, hữu vô rồi. Cái tách trà nó không ở ngoài mình, chẳng ở trong mình, thân tâm mình cũng như vậy, chỉ vì duyên niệm mà có thân tâm và thế giới. Nếu là bầu trời thì mây nổi cũng chẳng hề gọi, mây tan cũng chẳng hề mời. Khen, chê chỗ nào ? Vì tự mình mời gọi nên khen chê mới đến, không có mình thì ai mời gọi huống nữa là khen, chê ? Xét cho cùng, chúng ta có quyền năng tự do tạo lập đủ thứ thì chúng ta cũng có quyền năng không có thứ gì để tạo tác. Bản thể nhiệm mầu vi diệu thế nào chúng ta cũng đã cảm nghe, và hiện tượng thiên biến vạn hóa ra sao chúng ta cũng đã thấy biết. Không còn gì rắc rối lôi thôi nữa, vì mọi sự đã rắc rối lôi thôi rồi. Không có chi là chẳng giản dị vì thực ra rất giản dị. Vậy thì đúng, sai, chơn, giả có chi là lạ ? Có chi là lạ có chi là gay cấn ? Vì biết thực nên mới có hư, vì biết hư nên mới có thực. Thực hư không cần biết, cái biết ở chỗ nào ?

Mình là ma thì mình sống dậy trong thế giới ma, thì mình là Phật rồi. Mình là Phật thì mình thấy toàn là Phật, thì mình là Phật rồi. Chỉ vì mình chẳng như là mình như là thế nên ông Phật của mình bị phân ly, thủ xả, ma Phật … Từ đó lưu chuyển, xung động giữa ma và Phật, giữa thiện và ác nổi lên tại chỗ vọng dục mình, vừa muốn ở đây vừa muốn ở kia, ở bên kia lại mộng tưởng bên này, trong khi giòng sông chỉ có một, bờ nọ bờ kia nào khác với giòng sông trọn vẹn đôi bờ như nhứt.

Vui, buồn là vọng cầu và thành đạt trong chốc lát, chốc lát trở nên thiên thu vì vọng cầu tương tục. Đời sống chảy bằng sự chẻ đôi giữa hai bờ vọng niệm, nên chảy mà không trôi, niệm mà không vọng, tương quan mà độc lập. Vui buồn chẳng đối nhau, nên vui buồn là dụng mà chẳng có kẻ dùng.

Tự nhiên như nhiên là vậy, nếu thấy có tự nhiên như nhiên ắt cái phản tự nhiên sẽ ùa tới thì làm sao có thể siêu nhiên được. Biết mà không chấp trì, chấp trì tức có cái biết, có cái để biết và người biết nên liền có sinh tử, lưu ngại giữa cái biết và không biết, tức có kiến giải, tức sự vận hành của tư tưởng, dục vọng hay là bản ngã, tâm thức khép kín hay mở rộng, cuộc truy cầu lẩn quẩn mờ mịt phát sanh.

Xưa nay chỉ thấy một mà chẳng thấy hai, khi thấy hai tức là một thì tự do sấp ngửa, diệu dụng của một bàn tay. Đâu còn một hay hai để thấy hay không thấy. Trong tâm ngoài cảnh toàn là một điểm linh quang chiếu diệu, chỗ nào là năng sở, động tịnh. Biết được như thế thì tức là không biết, không biết mà tỏ rõ thức tình là Trí Tuệ, nhơn ngã đề huề, lý sự khế hợp, xa gần không chia cách. Tưởng cái ấy là Phật, mà chẳng phải Phật, tưởng chẳng phải là Phật mà lại là Phật. Sai lầm là do tưởng, nào có Phật hay không phải Phật để tưởng, cầu.

Làm sao để thành Phật ? – Thành ! Làm sao để thành Phật ? – Không thành ! Làm sao để thành Phật ? – Vừa thành vửa không thành ! Làm sao để thành Phật ? – Không thành cũng chẳng không thành ! Tâm trí cùng đường tuyệt đích bèn an định, mới biết trên cao dưới thấp đều chẳng phải chỗ an trụ. Các pháp không sai trái, một niệm tưởng liền khổ, sinh tử hiện tiền tương tục tương quan. Muôn pháp vốn chẳng ngại nhau, vì tâm vô ngại lãng quên nên có sự trái chống, sinh ra tâm, pháp, có, không. Sinh tử nào biết nhau, thấy có cái gì tợ như sinh liền tưởng ra có tử, từ đó tử sinh khác biệt, khác biệt rồi đi tìm cách hợp nhứt, nào ngờ sinh tử chỉ là ảo tưởng của tự tâm mình. Hết ảo tưởng, tự tâm còn chẳng thấy, huống hồ có ảo tưởng để dẹp trừ, sửa chữa.

Tứ đế cũng chỉ là đệ nhất nghĩa đế. Biết khổ thì thôi dứt, thôi dứt chẳng được nên tìm hiểu nguyên nhân, biết nguyên nhân chưa thôi dứt được, liền bỏ đời theo đạo, thấy đạo như rừng hoa bèn chia phương tiện, lập cứu cánh, làm sao rỗng suốt ? Sắc trần còn nhiễm, tình thức còn lưu, trí tình chí còn phân cách, chơn thiện mỹ còn ba, thì nói chi đến Phật, đến pháp ? Một chữ dính vào thì muôn chữ cũng kẹt, muôn chữ không kẹt thì một chữ có hề gì ! Cho nên đâu sợ kiến giải, chỉ sợ chẳng vô tâm. Một trái liền trái một phải liền phải, phải trái phân minh mà chẳng ngại.

Xưa nay mình đã phí tâm lực nhiều rồi cho muôn thứ, bây giờ thử không dụng tâm xem cái gì xảy ra. Cố tình không dụng tâm cũng còn phí tâm lực, đâu bằng không tâm tùy dụng. Tâm chẳng phải không mới không, vì Tâm là không rồi vậy.

Tâm mình tự do, vô hạn, đầy đủ … nên tâm có quyền vọng tưởng, vì vọng tưởng nên mất tự do, sai biệt … Biết mất tự do và sai biệt Tâm tìm đường trở về bản lai, về lại bản lai vọng tưởng xưa nay vốn là đức tướng viên mãn cùng với tự tâm thanh tịnh, tự tại không khác. Cuộc trở về không phải suy nghĩ hay không suy nghĩ mà được, phải có một sự đảo ngược để sấp và ngửa ([) được tròn trịa chuyển hóa (O).

Không ! Chẳng phải tôi muốn nói như thế. Tôi không biết gì về Phật pháp, thiên đường, địa ngục, cõi đời này v.v… ngoại trừ tôi đang bày đặt như thế.

 

Tự do và nô lệ từ thời vô thủy. Hai thứ ấy cứ quấn quít với nhau ([) làm nên vui, buồn, hữu hạn, vô hạn … thành vạn sự tương đối, khổ đau. Đến khi trực giác được đường đi lối về của nô lệ, sinh tử liền dứt, nô lệ là dụng của Tự do như chính là Tự do không có hai pháp (O). Tùy nghi sống chết, thủ xả như không trụ mà trụ, trụ mà không trụ, chẳng một dấu tích. Biết vọng từ đâu khởi thì không chạy theo vọng, không chạy theo vọng thì cái gì mà chẳng chơn, cái gì mà chẳng chơn thì đâu còn chơn huống nữa là vọng. Bày đặt thì như thế, không bày đặt cũng lại như thế. Vô thủy vô chung ở chỗ nào !

Ÿ

Thoát khỏi sinh tử là xong, không có cái bất sinh bất diệt nào để được tức chưa thoát khỏi sinh tử. Buông hết tức giở lên, còn hỏi giở lên hay không giở lên làm gì ! Một chữ Phật không nên nói, nếu lỡ có nói thì nói cho trót, đừng dở dở ương ương từ cái mê này chất chồng thành cái mê khác, đời không xong mà đạo cũng không xong. Nói trót rồi thì không cần nói nữa, vì cái gì cũng là Phật; cái gì cũng là Phật nên nói Phật hay không nói Phật nào có can hệ. Kiến giải tuy nhiều, không ngoài một niệm. Diệu dụng hằng sa, không ngoài một tâm. Lấy bỏ, tùy hình hiện bóng, như mang hư không này tặng hư không kia. Tâm, niệm giả danh cớ nên đặt điều. Làm sao nắm bắt? Không nên nhìn thấy các tướng từ tướng tâm mình, thì các tướng lưu xuất tự do tự tại trong cách điệu điều quy của nó mà không có một pháp cho ta hay cho người.

Tâm không có một pháp, chạy theo pháp bên ngoài (bên trong) bèn có pháp. Thấy liền đặt tên, chạy theo danh biến kế tư lường, vạn pháp sai biệt thành tổng tướng, vạn pháp tổng tướng rồi sai biệt, cứ như thế mà lòng vòng như nước lã khuấy nên hồ, chém dao vào hư không gây một vết nứt : nhị biên !

Những tưởng là con rồi đến cha. Nơi đây tình thức nổi phong ba. Nào ngờ vạn pháp từ xưa lại. Sinh tử nhơn duyên chỉ một nhà ! Ở trong nhà này, sinh tử đến đi không hề chạy theo chấp trước, thì làm gì có ngại nhau hay thông nhau. Nắm lấy liền dùng, không chạy theo danh không kẹt theo tướng, tâm pháp vô ngại. Chỗ làm xong, không có dấu vết, không tủ không xả, không hiểu cùng không chẳng hiểu, thưa hỏi đáp trao như một tiếng cười lặng lẽ giữa vô biên. Không một vật trong Tâm, trong Tâm không một vật, không một Tâm trong vật, trong vật không một Tâm. Tâm vật không hai, hữu tình vô tình đồng một giác trí, ngại hay vô ngại chẳng còn thấy vết chân. Chân còn chẳng chấp huống hồ là giả, giả là duyên khởi, chẳng phải có chẳng phải không. Hễ dính vào liền có, buông ra liền không. “Không” tìm chẳng thấy, “Có” không chỗ trụ.

Tam tạng kinh điển, cũng như tất cả những tông phái, pháp môn là phương tiện vào cửa đạo lý nhiệm mầu không tướng, vào cửa rồi không còn thuốc chẳng có bịnh, chưa vào cửa không thể nói không bịnh không thuốc. Bậc đại giác không ở trong cửa, ngoài cửa. Thử hỏi viên giác chỗ nào ? Minh tâm thì kiến tánh, một câu huyễn mộng liền lộ toàn chơn. Bên kia hay bên này cũng chỉ là … như thế !!!

BIẾT VỌNG LIỀN CHƠN, KHÔNG CÓ CHƠN NÀO KHÁC. BIẾT NHƠN DUYÊN LIỀN TỰ DO VỚI NÓ, TỰ DO VỚI NÓ THÌ CÓ NÓ HAY KHÔNG CÓ NÓ, NÓ VỚI TỰ TÁNH LÀ MỘT HAY LÀ KHÁC KHÔNG CÒN LÀ VẤN ĐỀ NỮA, VÌ VẤN ĐỀ LÀ VỌNG TƯỞNG : NGÃ VÀ SỞ NGÃ, PHI NGÃ VÀ VÔ NGÃ V.V…

Ÿ

Tư tưởng mang lại sự bế tắc. Nhưng bế tắc tư tưởng cũng là tư tưởng nữa. Chỉ khi nào biết đường đi lối về của một tư tưởng, khi ấy đời sống tâm linh toàn diện mới mở ra vô hạn. Đời sống ấy, tư tưởng chỉ là một mảnh, một phần trong vô số nhơn duyên khác, không thể trắc lượng được. Tư tưởng hay toàn bộ tâm thức giữ địa vị chủ yếu trong mọi hiện thể vì nó biến hóa vô song. Ý thức cũng là chỗ giải thoát mà cũng là chỗ của mọi nô lệ, nó là căn cội của phân ly đồng thời nhìn thấy sự như nhất của vạn thể.

Tư tưởng có đôi tay rất kỳ diệu, nó nhìn thấy thế giới và không nhìn thấy gì cả. Nó chính là năng tri và là sở tri của mọi sự, nó chính là thế giới mà cũng là không phải thế giới. Cứ như thế, tư tưởng đi con đường ảo dị của mình. Vừa phân ly vừa muốn hợp nhất, nên nó tạo tác nhiều cảnh giới sai khác, nếu không thực sự nhìn thấy bản chất của nó, nó sẽ cho mình thiên đường giả tạm, sự giải thoát giả tạm, sự hiểu biết giả tạm, tình thương giả tạm. Sinh tử chính là tư tưởng. Vô tưởng hay phi tưởng vẫn không thoát được nó. Biết nó, thì tự do với nó, vì tự do với nó nên sử dụng nó như thần thông, diệu trí. Không biết nó thì như ruồi sa lưới nhện, càng vùng vẫy càng bị chìm lấp, càng trốn tránh càng gây lớn bản ngã. Phải biết, tư tưởng giống như cái lâu đài được xây dựng trong hư không, lâu đài được xây dựng hay phá bỏ, hư không cũng không dính líu cũng chẳng không dính líu. Hư không, ấy là tự do với tư tưởng, tâm thức, bản ngã, dục vọng, cảm thọ … mình. Nếu không có những thứ ấy, mình vẫn là hư không, nếu có những thứ ấy mình vẫn là hư không. Hư không chẳng phải còn mất, rộng hẹp, tốt xấu … Mình cũng như vậy.

Thân, tâm, thế giới … vốn là KHÔNG. Chớ hỏi KHÔNG này là cái gì, nó có hay sinh các pháp hay không sinh các pháp, nó hữu hạn hay vô cùng, đầu mối cuối nẻo ra sao … Vì tất cả mọi vọng tưởng hay dứt mọi vọng tưởng cũng không thể ngộ nhập được KHÔNG. Vậy chỉ cỏn : Một tiếng cười lặng lẽ !

Những gì thuộc về thế giới hiện tượng, hữu vi, bờ bên này thì dùng ngôn ngữ, động hành … mà diễn đạt; nhưng những gì thuộc về bờ bên kia, vô vi, bản tánh … thì chỉ còn biết tịnh tâm để tâm mình, minh tâm thì kiến tánh, kiến tánh như tánh rồi thì có thể một chữ cũng diễn toàn pháp giới và như vậy cũng có nghĩa người đã lên đường qua bờ kia rồi mới hiểu nhau, hiểu nhau là không có gì để suy lường, tạo tác. Cho nên cũng là sum la vạn tượng này, khi chưa thành Đạo thì thấy cái gì cũng tương đối, hết sinh rồi lại diệt; khi thành Phật rồi thì toàn thể là tuyệt đối, bất sinh bất diệt, sai biệt mà bình đẳng, bình đẳng sai biệt nhất như.

Ÿ

Đạo lý Tối thượng không thể lấy tình thức mà đạt được, nên kẻ trí thức cùng kẻ bình dân đều đi đến con đường đó một cách bình đẳng. Đức Sơn thông đạt giáo tướng, Huệ Năng không biết một chữ đều phải không dùng công hạnh, kiến giải mà thâm ngộ Thiền. Đắc đạo rồi thì Phật pháp hiện, cùng một mùi vị giải thoát như nhau, mà khác nhau về công hạnh, kiến giải; khác nhau về công hạnh, kiến giải mà gặp nhau ở chỗ Phật pháp vô biên, tức khác nhau về kiến giải, công hạnh là chỗ tùy thời hóa độ chứ chẳng phải cốt tủy của đạo lý. Cốt tủy, tức một gốc mà sinh ra sum la vạn tượng cành nhánh giáo tông, như một Tâm mà gồm thâu muôn pháp, muôn pháp quy về một Tâm. Phương tiện khác nhau để thành đạt một cứu cánh, nhưng cứu cánh và phương tiện chỉ là một, nên gọi là chánh pháp khác với tà pháp. Cứu cánh và phương tiện của chánh pháp thì hóa giải chánh tà, nghĩa là chuyển tà nên chánh, để chánh không còn là chánh, tà hai pháp nữa, đó là cứu cánh của mọi phương tiện chơn chánh. Mọi sự phân ly đưa đến hợp nhất, mọi cái hợp nhất là KHÔNG, KHÔNG là tâm pháp nhứt như, Phật ma cùng Thể, cùng Thể nên không còn làm ma không còn tác Phật, Phật là vô tác. Vô tác cũng vô trước mới thực là vô tác, nhưng nói như thế vẫn còn là danh ngôn, còn ở chỗ hiểu và không hiểu. Còn phải đến chỗ “không hiểu” mà dùng chẳng trái mới gọi là hết mê. Hết mê mới biết mê chẳng thật, chỉ vì ngộ nhận làm hai pháp mà thành sanh tử lưu chuyển. Đến khi giác ngộ rồi thì hai pháp vẫn vậy, mà ngộ vốn chẳng hai, nên sanh thì sanh, tử thì tử nhưng luân hồi thì không, nhân quả thì rõ ràng mà lầm lộn nhơn duyên thì chẳng phải. Được như thế, phải cùng chẳng phải tự nó là chánh pháp, đâu còn phải hay chẳng phải để chọn lựa, dẹp trừ, thờ phượng.

Sự đời cũng như việc đạo, nói hoài cũng không hết vì nói cũng là giòng đời giòng đạo, chỉ có một “giòng”, duy đời và đạo là chuyện nói mớ, dẹp nói mớ thì ở nơi một giòng tha hồ nói nín không có gì chẳng lưu thông. Có nô lệ mới gọi là tự do, nên chỗ chướng ngại là chỗ vô ngại dụng. Hữu hạn là trò chơi của vô hạn vốn là chơi trò. Ở nơi cảnh diễn bày là một sát na tâm, thì ở một sát na tâm mà an trụ nơi cảnh diễn bày; nên không có chỗ xuất, nhập, dứt bặt năng sở, toàn cảnh tức là Tâm, toàn Tâm không lìa cảnh. Hữu hạn là con của vô hạn, vô hạn là mẹ của hữu hạn, mẹ và con tuy hai mà một, ta với người là một mà hai, biết thế nên không trụ ở cảnh chẳng dính mắc ở Tâm, nên Tâm cảnh hiện mà vô sở đắc. Vô sở đắc là thực tướng của vạn pháp, thể nhập chứng đắc thực tướng này như nóng lạnh tự biết không thể dùng hiểu hay không hiểu, công hạnh hay kiến giải mà được. Lìa mê ngộ, tức Thực tướng sanh, Thực tướng sanh mà vô sanh vì Thường Trụ vậy, Thường Trụ vì chẳng phải sanh chẳng phải diệt, chẳng phải đoạn chẳng phải thường, chẳng phải chẳng phải …

 

Hòn đất là thiện hay ác ? Tâm người là thiện hay ác ? Thiện ác không có ở trong tâm người cũng chẳng có trong hòn đất, nhưng khi dụng tâm thì hòn đất liền là thiện là ác. Cuộc đời vui như đạo tràng vui, biết dùng hay không biết dùng mà thôi. Không biết dùng thì thuốc thành bệnh, biết dùng thì bệnh là thuốc; thuốc và bệnh tương ưng, thái hòa để được vui khỏe. Biến hóa cùng với biến hóa thì động mà chẳng động. Chẳng động mà động thì không có chi là động cả. Thực sự cố chấp thì mọi sự đều thành tựu, chỉ sợ không có sức cố chấp mà cho rằng đừng chấp, chớ nên chấp, cần phá chấp, không được chấp … là phải … là con đường vào đạo. Người bảo “tôi không chấp gì cả” thì cho một thang thuốc “ông nên chấp tất cả đi”, người bảo “cái gì tôi cũng chấp” thì cho một thang thuốc “ông không nên cái gì cũng chấp”, vậy thì bệnh với thuốc chỉ là tưởng tượng, duyên sinh đâu có lời nào là tuyệt hậu ! Cho nên cố chấp được mà nuốt cả tam thiên đại thiên thế giới như ăn cơm uống nước, không cố chấp được thì vứt hết đi như hỉ mũi. Không có một phương pháp nào được gọi là chẳng đủ, không có nhiều phương pháp nào được gọi là nhiều. Trăm phương nghìn pháp chỉ tùy người dùng, ngoài ra chỉ có một phương pháp duy nhất mà thôi. Vì dùng không trọn vẹn nên thối lui, thối lui rồi chạy tới bèn cho rằng có một phương pháp khác, từ đó đạo giáo tùm lum như đồ chơi dỗ phỉnh con nít, cho cái này là phương pháp tốt hơn phương pháp kia v.v… mà thực ra thì bánh nào cũng từ bột gạo ! Thiền, Tịnh, Mật … chẳng phải là ba cái bánh làm từ bột gạo Tịnh Tâm, Trí Tuệ, chơn tánh? Đã từ Thực Tướng biến hiện ra muôn pháp, thì pháp nào pháp nấy cũng từ đó mà vào lại Thực Tướng. Còn có con đường nào khác là con đường ra thế nào thì vào thế ấy ? Phá bỏ vọng tưởng, nghiệp thức, ý tình chí … là phá bỏ cái gì ? Phá bỏ thế nào ? Sao khi xưa mê gái ngày nay thấy gái liền ngộ ? Vậy phá bỏ mê tức là dựng xây ngộ ư ? Phật hiện ma tan chăng ? Lục thông khác biệt thế nào với ngũ thông để cho Phật là Phật, mà ma là ma ? Hay lậu tận thông là cái gì thế, có cái gì hơn hẳn ngũ thông kia ? Tứ thiền, tứ định, diệt thọ tưởng cũng không ngoài vòng vọng tưởng, mà riêng chỉ lục thông thì siêu thoát ? Có thể nào chỉ cần một lậu tận thông mà không cần đến ngũ thông cũng ra ngoài tam giới ? Sao gọi là ra ngoài tam giới ? Vì sao đắc ngộ ngũ thông thì còn kẹt mà đắc ngộ chơn tâm, thể tánh thì vô ngại đồng thời cùng hóa hiện thần thông, trí tuệ viên minh ? Kiến giải được như thế thì mới nói chấp hay chẳng chấp là cái gì như thế !

Thân là không, chẳng phải không có thân. Vì thân là không nên chẳng còn có và không đối lập nên thân là không, còn gọi là thân vô ngại; tâm cùng thế giới cũng như thế. Sự hiểu biết như thế chỉ là danh tướng, chứng nghiệm sự hiểu biết như thế tức là thực tướng phát sanh, khi thực tướng phát sanh thì giới, định, huệ chỉ là một. Sự sai biệt của thân tâm cùng thế giới là sự sai biệt độc lập, tự do chứ chẳng có chi là đối lập, ràng buộc nhau hết thảy. Chỉ thể nhận như thế thì niềm hạnh phúc vô sai biệt sẽ là sự thực chứ không cỉ là danh tướng, ngôn từ, ý niệm … Tâm niệm đã được sáng tỏ không còn phân chia tâm, ý, chí; cũng không còn phân chia tiềm thức, ý thức, vô thức nên Tâm niệm là “không”, và “không” thì bao hàm mọi sai biệt trong vô sai biệt. Vô sai biệt là sai biệt, phiền não xưa kia vốn la diệu dụng của cái vĩnh cửu – bây giờ và ở đây. Mới biết vọng chẳng cần dứt lìa mà tự “không”, tự “không” cũng không cầu đạt mà vẫn “không”. Cái “không” tìm chẳng thấy chẳng biết, chẳng được … mà không phải như lông rùa sừng thỏ, vì lông rùa sừng thỏ cũng chỉ là một pháp đối lập với những pháp khác, nên hư vô cũng là vọng tường. Cái chơn thực ấy không có tướng sanh, không có tướng diệt mà vẫn hiện tiền đầy đủ chẳng ngại có, không, sinh, diệt. Vì mê muội chẳng biết sanh từ đâu đến, diệt đi về đâu nên vòng nhân quả luân hồi khó sử dụng như ý. Vì khó sử dụng như ý nên ngăn ngại nhau, được mất chia lìa nhau, phải trái, chơn huyễn cũng từ sự mê muội ấy mà sanh khởi. Hết mê muội rồi thì toàn sóng là nước, mọi sự đối lập giữa sóng và sóng cùng sóng với nước chỉ là một giấc mộng ưu phiền đêm qua. Biết sóng là dụng của nước, tức biết (thể nhập, chứng ngộ) mình là Phật, là chơn pháp hóa hiện vạn hữu : có, không, chẳng có chẳng không, vừa có vừa không. Vì chấp sóng nên mới có sinh tử luân hồi, nhìn thấy nước thì sinh tử luân hồi (sóng) không chi chẳng phải bất sinh bất diệt. Thần thông diệu dụng, pháp nhĩ như thị là vô – ngã – hữu – ngã, hay chơn – ngã – hữu – ngã cũng thế. Tuyệt đối là tương đối. “Không” tức là hữu vô siêu việt, chơn không diệu hữu. Duyên khởi để đặc thù, như nhứt để bất biến, bình đẳng. Duyên khởi và Như Lai tạng chẳng phải hai. Nếu thấy hai liền có bản thể và đối tượng, tức có biến dịch, sinh tử. Ý thức được chuyển hóa, ý thức không còn đối tượng sở cầu, sở đắc, sở chứng …

Ÿ

Ngủ, ấy là tập chết đi một nửa trong khi sống. Có một kinh nghiệm mà tôi được biết đó là kinh nghiệm về KHỔ. Có một kinh nghiệm mà tôi cũng chứng thực là TẬP. Ngoài ra tôi không biết không chứng gì ráo trọi trong cuộc tìm học Phật Đạo. Một chút ánh sáng được hé lộ trong tôi, đó là phân biệt tôi chẳng cần dính líu mà vô phân biệt tôi cũng chẳng cần thủ xả. Thế thôi là ý vị tu hành. Từ đây, có lẽ tôi phải tập chết thực sự chứ không còn chết một nửa hay sống một nửa nữa. Tôi không muốn đi lên thiên đường cũng không muốn đi xuống địa ngục nữa, tôi phải chủ trì thiên đường và địa ngục trong nhất tâm tôi. Tôi phải là nhất tâm tôi mới được, vì nếu chẳng trở về với nhất tâm ắt có lẽ tôi không thể làm địa ngục và thiên đường, sống và chết v.v… thành duy nhất được. Tôi phải thực sự xóa hết, bỏ hết những gì là Phật, Pháp, vô, hữu, sinh hay bất sinh … Những thứ ấy chỉ là thuốc; bệnh tật của tôi hiện tại là cần an nghỉ vĩnh viễn chứ chẳng phải tìm cầu thuốc thang để uống. Tôi đã chán hết những trò đối lập giữa đời và đạo như tôi đã buồn nôn trước những mâu thuẫn của trần gian thế tục. Từ nơi cõi trần gian huyễn mộng này, tôi lưu chuyển trong mâu thuẫn hoặc là theo đường thẳng tắp hoặc là theo đường vòng tròn hoặc là theo hình bầu dục v.v… khắp thiên sai vạn biệt, tìm không ra manh mối chỗ an thân lập mệnh. Trong chỗ thất điên bát đảo của mọi tương đối tôi lìa bỏ chúng để nhìn thấy cái tuyệt đối ngoài thời gian, nhân quả, siêu việt mọi có không sau khi đã đi trọn đủ, đã biết trọn vẹn mọi sai biệt nhơn duyên. Rồi từ tuyệt đối vô ngã vô tướng này, tôi nhìn thấy lại mọi thiên sai vạn biệt là sự thật miên trường không ngoài nhất tâm vô niệm, gồm đủ, tương dung thời gian vô tận không gian vô cùng trong từng tâm cảnh, một là tất cả, tất cả là một, bình đẳng mà sai biệt, thể tức dụng. Sở dĩ có sự chia lìa giữa bản nguyên và hiện tượng là do một vọng niệm lầm lộn rồi chạy theo vọng niệm này làm thành tập quán, dục vọng và tư tưởng … làm nên bản ngã, tôi và thế giới … Thực ra, bản ngã cùng sở ngã không khác. Sự thật duy nhất cần phải kinh nghiệm, thực chứng, thực tri như ta đã từng sống trong thế giới cảm giác, tri giác về mọi sự xung quanh. Tôi biết nhất tâm, nhất thể tánh như tôi biết cái bàn cái ghế trong thế giới vọng tưởng tức cảm giác, tri giác, kiến giải về chúng. “Cái biết” ấy tức là “làm”, chứ không có sự tách biệt giữa tri và hành, lý và sự, tiệm và đốn v.v… Cái biết ấy là cái biết trong “cảnh giới không biết”, tức không còn năng sở, mình và cái không phải mình. Cái biết ấy bao trùm toàn khắp, riêng biệt độc sáng, tất cả trong tất cả, một trong một. Tất cả đều sinh và diệt trong KHÔNG, và nhờ KHÔNG mà tất cả đều được sinh và diệt. Nơi KHÔNG, sinh diệt vô ngại, và rời lìa mọi khủng bố, điên đảo. Sinh tử không có gốc rễ, như mây nổi giữa hư không, tuy vậy cái không chẳng sinh ra cái có, cái có cũng chẳng sinh ra cái không, vì không và có nương nhau nên vạn pháp thành trụ hoại diệt. Vô minh cũng như vậy, chẳng có gốc rễ, căn nguyên, thực thể … nó là một con dao hai lưỡi, biết nó thì đại dụng, không biết nó thì bị nó sai xử lên xuống sáu đường. Nhất Tâm chơn như cũng không gốc không rễ, nếu chấp nó thì mất nó, hoặc nó trở thành thực tại thực thể chết cứng, hoặc nên thần nên thánh độc quyền, hoặc vô nhơn, hoặc thiên mệnh, định phân tự nhiên v.v… “không có cái được” tức là liễu ngộ tự tâm bất nhị, nếu có sở đắc sở tri tức có hai pháp, tức có ta và thế giới, vũ trụ đối lập tác động lại qua, do đó có cái chết và cái sanh. Ta là vũ trụ, cái sanh hàm ngụ cái tử, cái chết tức là cái sống cùng một tiến trình của vũ trụ. Cho nên nói giác ngộ, giải thoát, làm xong v.v… là ý nói khám phá cái bản ngã phân ly chia cách mình với vũ trụ; giác ngộ bản ngã là “không”, là cùng với vũ trụ như nhất tức là “làm xong” nhiệm vụ của bản ngã, của vô minh, vọng tưởng, dục tình và giải thoát khỏi bản ngã đó để về lại mái nhà xưa, tức vũ trụ duyên khởi vô thủy vô chung bất sinh bất diệt, tướng vô tướng, vô tướng tướng. Tướng và vô tướng đều Vô Trụ. Cái Biết mê và ngộ chẳng có ngộ hay mê. Từ đây, thời gian có vô tận không gian có vô cùng cũng chỉ như một niệm khởi trong nhất tâm vô vi, một chớp lóe trên bầu trời mùa hạ, một giọt sương rơi trên mặt hồ thu. Chẳng phải động chẳng phải tịnh, động tịnh nhất như nên tự do động mà trúng, tự tại tịnh mà không sai. Về bên này là ra đi bên kia, ra đi bên kia là về tới bên này, chưa từng còn mất, sinh diệt … chưa từng đi hay về … trong thể tánh vi diệu chơn tri. Pháp vốn như thế chẳng tu cũng chẳng phải không tu mà được, vì tu hay chẳng tu đều là Pháp cả. Biết thế là Ngộ ! Ngộ mà chẳng có một pháp để ngộ, vì Pháp bất khả đắc.

Ÿ

Nói tóm lại, vạn pháp vô thủy vô chung, vô hạn tương dung tương hóa, toàn thể là dụng, toàn thể là thể. Bản thể chơn như sinh động huyễn hóa trong vạn sự vạn vật, nhưng mỗi sự mỗi vật đều là toàn thể dụng, toàn mãn chơn như, không riêng không chung. Chỉ vì nhận thức sai lầm nên có sai khác, phân ly thể dụng, thành ra các pháp có nhiều hay có ít, có hữu hay có chung, vô cùng hay giới hạn, sinh tử động tịnh phát sinh. Thực ra, nhận thức sai lầm về thực tại cũng là dụng của chân như bản tính, có như thế mới nhìn thấy được tương quan nhân quả là một phần của duyên khởi vô tận, bất khả thuyết, vô sở đắc. Tâm chơn nguyên không sinh không diệt vạn pháp, vì vạn pháp chính là diệu tánh của Tự Tâm nhất thể. Biết thế và chứng nghiệm như thật tướng của các pháp là Duy nhất, không hai, bèn thoát ly sinh tử, chứng pháp thân thay vì ôm ấp bản ngã luân hồi. Nhận Pháp thân làm ngã chơn thực, thì đời sống của bản ngã này liền thay đổi, không có tham vì không có người tham hay vật tham, sân và si cùng các thứ cũng lại như vậy. Chơn ngã vận hành là vũ trụ vận hành, ngoài nhân ngoài quả, chỉ là cái vô tận duyên khởi hiện bày không dị biệt cũng không tổng thể, nếu chỉ chỏ được thì chỉ là danh chứ không phải thực, nhưng danh cũng là duyên khởi nên không chi là chẳng phải Thực tại tuyệt đối. OM !

Ÿ

Hữu Thể tức vô ngôn. Vô ngôn là không có gì để nói mà vẫn nói như mọi sự chẳng đi về đâu mà vẫn đi vẫn về. Như thế, vô ngôn tức là sự thể nhập thực tại, là sự thực chứng tâm linh viên mãn, sự im lặng tuyệt đối của nội tâm nhứt như, sự chấm dứt mọi biến dịch của lưỡng tính, sự bất khả tư nghị vì không phải tâm không phải vật, sự siêu việt vì không có chỗ chứng đắc, không có cái thủ xả, vì mọi hiện hữu chỉ là danh sắc tạm gọi chứ không có thực tại, thực thể nào để quy kết, và vì “không” nên chẳng thể quan niệm, thấy biết. Nếu có thể thấy biết, quan niệm tức là thời gian, và thời gian đã là thời gian hóa cái vĩnh cửu vô thủy vô chung của nhất tâm vô niệm thành sát na này đến vi thể khác mà thế giới giả lập, huyễn hóa, tương đối được nên. Tuy ở trong có và không như vậy, bản thể vô tánh vô tướng vẫn thường trụ. Vì Thường trụ nên sanh tử là hiện trường sở trụ của vô ngôn, vô để. Mặc dù có đến có đi nhưng không để lại vết tích, không để lại vết tích nên vẫn không hề đến không hề đi. Không có trước cũng chẳng có sau, vì pháp vốn vô trụ, vì vô trụ nên không dính mắc, “sắc” tức là “không” nên bất động, như như, vô định, tùy thời.

Ÿ

Tương quan – sai biệt – biến dịch – vô ngã : Nhất thể tính – Thanh tịnh tâm – Như Lai tạng – Chơn ngã.

Đạo tu hay không tu cũng thế, vì đạo chẳng phải tu mà được cũng chẳng phải không tu mà được. Tuy nhiên, mê đạo thì thành nhân quả hữu hạn, ngộ đạo thì thành duyên khởi vô cùng. Trong mê, vì thấy có ngã và pháp như là thực thể để giữ lấy của mình và bỏ đi cái không phải mình. Ngộ, vì thấy các pháp tức ngã kiến và tư hoặc (lý và sự) là vô thường, vô ngã, không … chỉ là một diễn trình không có thực thể, không có thủy có chung nên thấy mà chẳng có chỗ thấy, chẳng có chỗ thủ xả. Bản ngã đã rơi rớt như giấc mộng đã được chấm dứt vì vừa tỉnh thức. Nên chỗ hiện tiền tự chứng không phải động chẳng phải tịnh, vì thực tướng của các pháp không có động không có tịnh, chỉ vì thấy lầm nên có sinh có tử, có sự tương tục nối tiếp hay sự chấm dứt, đoạn diệt. Sự thấy lầm chính là sự lưu diễn của dòng tâm thức tuôn chảy từ vô thủy, sự lập đi lập lại, sự tương dung tương nhiếp, sự tích tập ù lì … làm thành bản ngã và sở ngã như là một thực thể không đầu mối. Biết được cội nguồn, ngôi nhà bản ngã sụp đổ, tâm thức chuyển hóa toàn thể diễn trình thành chơn ngã như thị, nơi và thời được an lập trong vĩnh cửu đương niệm vô thủy vô chung.

Ÿ

Tỉnh giác : sự nồng cháy của nội tâm, sự tận cùng của suy niệm, sự chết đi của thời gian và không gian. Tỉnh giác, đó là chỗ của sự phục sinh tối hậu. Nếu thiếu tỉnh giác sẽ rơi vào tịch mặc hoặc ngược lại, sự tán loạn, mê hoang, giải đãi … Một sát na tâm sinh ra toàn thể vũ trụ, thần thức.

Ÿ

Độc sáng, tương quan : vũ trụ và mình chỉ là một. Vũ trụ là sự độc sáng của mình và mình là sự tương quan của vũ trụ. Vũ trụ là sự tương quan để làm nên mình độc sáng. Vì tương quan là để làm nên độc sáng, sự độc sáng của mọi người mọi vật là sự độc sáng của vũ trụ tương quan.

Ÿ

Từ vô thủy, mình mờ mịt trong sự tương quan, đến lúc nào đó, như mò kim đáy biển, như mèo rình chuột, như mình cần phải tự giải vây, thì mình tự khám phá sự độc sáng của chính mình. Khám phá sự độc sáng của chính mình, là sự lột bỏ những ảnh hưởng, những tập quán, những ràng buộc từ vô thủy đến nay đã làm mình nằm mờ mịt trong dây mơ rễ má, chẳng biết cái gì ra cái gì cả. Từ nay, nếu không có mình thì vũ trụ cũng chẳng có, vì mình không nên vũ trụ không, muốn có hay không có là tự do nơi mình. Và vì mình là “chơn không” nên mình mới có thể tự do tự tại nơi có không, sanh diệt vậy. Nếu nơi sanh diệt mình chẳng được tự do tự tại, tức “chơn không giải thoát” thì mình sẽ bị sanh diệt làm chủ mình mà mình không hay không biết. Bây giờ biết được đầu mối của sinh tử, rõ được đường đi nước bước của sinh tử mình cùng làm bạn với sinh tử mà không bị nó lừa gạt nữa. Sắc – thanh – hương – vị – xúc – pháp – giải thoát.

Ÿ

“Chơn không” là sinh mạng vĩnh cửu của mình, từ đó mình mới sáng tạo nên sinh tử cùng với mình như bạn. Nhà văn và tác phẩm là một, nếu không có tác phẩm chẳng gọi là kẻ sáng tạo ! Diệu hữu tức chơn không ! Toàn là nói mớ cho vui chứ chẳng phải vậy, nhưng biết chẳng phải vậy và biết chỉ là nói mớ thì quả nhiên như thế. Mọi sự như thế. Thực ra thì chẳng có chi được gọi là mọi sự. Như chẻ cây tìm ván, ván chẳng phải là cây, nhưng có tìm thì mới thấy.

Ÿ

Mọi sự đang giải thoát ! Vì tất cả đều bất khả đắc, bất khả tư nghị. Không có một pháp có thể được, không có một tâm có thể thủ xả. Bản ngã là ảo tưởng duy nhất của chúng ta, từ đó chúng ta sống trong thế giới ảo tưởng do chúng ta dùng bản ngã để tạo tác, sắp đặt, suy lường … Còn một pháp trong tâm có thể thủ xả tức không thể giác ngộ được. Giác ngộ là sự giải thoát khỏi mọi tâm pháp, sắc tướng. Người ta phải trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu để thấy rằng mình vẫn tự do tự tại, độc lập độc tôn ngay nơi mọi sự ràng buộc, ngay nơi vạn pháp giao lưu. Mình muốn trái thì trái, muốn phải thì phải, mình muốn vừa trái vừa phải thì liền được như thế, hay không muốn gì cả cũng được như thế. Mình được tất cả và tất cả đều bất khả đắc ! Mình là cái trống không, ấy thế mà nếu thương đến thì thương, ghét đến thì ghét. Cho nên cần phải biết mình, biết căn cơ cội nguồn của mình là chơn tánh diệu không, để yêu ghét không thúc phược mình được, vì yêu ghét tốt xấu … chỉ là hoa đốm trong hư huyễn, tất cả hoa đốm luôn luôn là thế, luôn luôn sinh diệt trong hư không, hễ mê nó mà quên bản lai diện mục của mình ắt trôi nổi sinh diệt như hoa đốm. Chạy theo khách trần phiền não thì khách trần phiền não thay thế mình mà chịu sinh diệt. Hãy trở về với cái “không là gì” của mình đi rồi thì tha hồ để cho khách trần phiền não mưa xuống lai rai hay ào ào thác lũ mà mình không hề dính líu một giọt mặc dù mình không trốn lánh cũng không hứng chịu, vì mình như hư không, đâu phải đất cát để đựng mưa hay không đựng mưa. Tất cả đều chảy trôi, chảy tuột qua mình, mình là kẻ chứng minh không có điểm tựa, không có chỗ đứng nào. Vô phương là chỗ của mọi phương hướng; phương hướng đi và về nơi vô phương, vô sở tại.

Ÿ

Ở các cõi khác đức Phật thuyết pháp họ nghe ra như thế nào mình chẳng biết được, nhưng với cõi người mình thấy cái gì, sự gì cũng là hai mảnh, cho nên mình nghe pháp để đừng kẹt vào hai mảnh thị phi, vô hữu … Vì không kẹt vào hai mảnh phàm, thánh mới biểu hiện tự tại được cả hai mà không hề động, không hề tịnh; chưa từng có một pháp là chỗ cho nhơn duyên lộ bày muôn pháp. Và muôn pháp ấy không phải không, không phải có, cùng chơn không chẳng khác, chẳng phải một. Một tình trạng vô trọng lực !

Ÿ

Tư tưởng là nghiệp lực, không tư tưởng cũng là nghiệp lực. Chỉ có Trí tuệ là ánh sáng soi chiếu tâm thức mình để thấy rõ ràng đường đi của nghiệp lực mà thôi. Đuốc Tuệ bừng cháy đốt tiêu phiền não, tự tâm thanh tịnh như hư không hàm dung nhiếp thụ vạn hữu, vạn hữu cùng chơn không chẳng ngại nhau. Diệu hữu chính là chơn không, phiền não tức Niết bàn, chỉ do phân biệt mà có hai, vì có hai nên thấy vạn pháp lưu chuyển sinh diệt. Nhưng sinh diệt lưu chuyển là đại dụng của Đạo, đánh mất đại dụng vì quên mất tự tính thanh tịnh vô tướng của Đạo, vốn chẳng phải một, chẳng phải hai. Nhơn duyên tự tánh khởi dụng, vì phân biệt mà có nhân quả sinh diệt khác với cái bất sinh bất diệt. Thực ra, vạn hữu xưa nay vẫn thế, chẳng lìa tự tính chơn không, chẳng có nhơn duyên hay phi nhơn duyên, chẳng có phân biệt hay vô phân biệt.

Ÿ

Chúng ta chạy trốn khổ đau để săn tìm dục vọng, nhưng dục vọng chẳng phải là chơn phúc. Săn tìm chơn phúc càng thấy khổ đau và vì khổ đau nên chạy trốn để tiếp tục săn tìm thoát khổ. Chấm dứt săn tìm thì không còn chạy trốn nữa, các pháp liền tịch lặng. Tịch lặng chẳng phải chấm dứt ngoại cảnh lưu chuyển, mà là sự trực thức vô hạn không dấu tích của tự tâm. Nước chảy hoa trôi là chơn tịnh của người chứng ngộ không tính bất sinh bất diệt, ngoài mọi danh tướng và sắc tướng. Chỉ vì chấp trì nhơn duyên nên nhơn duyên trở thành vấn đề, quan niệm, ý thức, vô thức v.v… là những ràng buộc, ảo tưởng, sai lầm về vạn pháp. Duyên khởi vạn hữu là vì mê, ngộ mà nói, thực ra vạn pháp vốn “không”. Vì đối với chơn không nên nói vạn pháp duyên khởi. Lìa danh sắc, tức không có chỗ trụ trước, không có chỗ được, thì còn gì gọi là ngã là pháp, là mê hay ngộ. Một niệm mê lầm, vạn pháp xuất sinh chao đảo; một niệm sáng tỏ soi chiếu vô thức, tiếm thức, ý thức chỉ là Trí tuệ duy nhất gọi là ngộ, không thấy có pháp hay không pháp. Sáng tỏ tâm mình tức kiến tánh vậy. Tâm mình “không” tức là tánh mình vậy. Tánh mình không tự tánh, không tha tánh, không đa nguyên, nhất nguyên, hay vô nguyên. Biết, nhưng chưa từng biết, vì không có bản thể và đối tượng. Chia chẻ để tìm hiểu kết cấu của một đóa hoa thì sự hiểu ấy chẳng còn là đóa hoa nữa, hiểu kết cấu của vạn duyên liền dứt, tức trở về với cái Biết bản nguyên của vạn tượng vậy. “Bát nhã ba la mật cũng chẳng phải, tức là Bát nhã ba la mật vậy”. Không chấp trước cũng không chấp trước mới gọi là không chấp trước. Thuốc và bệnh chỉ là cái ràng buộc của một cơ thể chân thực khỏe mạnh, khi cơ thể chân thực khỏe mạnh thì thuốc và bệnh không còn nữa, và cơ thể chân thực khỏe mạnh cũng không hiện hữu.

Ÿ

Vạn hữu tương sanh tương diệt, các pháp độc lập tự do, đó là mặt thể tướng; còn thể tánh thì không sanh không diệt, vì chẳng có một pháp nào để thi vi, tạo tác, khả đắc, khả chứng, vì không có năng và sở, vì không có danh và sắc, tức không có hai pháp : bản thể và hiện tượng. Do vì mê lầm mà sinh mọi sự, do vì mê lầm mà mọi sự như có mất có còn. Do vì mê lầm nên có khởi niệm về cái ngoài mọi mê lầm, và từ đó bắt đầu phân tích mọi sự mê lầm và phân tích luôn cái ngoài mọi mê lầm. Sau cuộc truy cầu, chạy trốn, săn bắt thực tại được chứng ngộ, người ấy đã nếm đủ mùi vị thế gian, mùi vị xuất thế gian và sau cùng là chánh giác. Chân lý không còn bị phân tích hay tổng hợp nữa, vì chân lý không phải là một đối tượng để chứng ngộ, huống nữa là tu học, truy cầu. Vô minh là sự chạy đuổi bóng hình mình. Giác ngộ là sự chấm dứt mọi trốn chạy, săn bắt vì hình bóng ấy không có thực, mà chỉ là một cái nhất như, viên mãn, vô hạn, bất khả tư nghị.

Ÿ

Đức Phật không nói đến các vấn đề siêu hình, vì các vấn đề ấy cùng với những vấn đề mà đức Phật đề cập đến như Tứ diệu đế, Thập nhị nhân duyên … chỉ là một vấn đề mà thôi. Và cái vấn đề duy nhất ấy chính là vô minh, do vô minh mà có tạo tác lưu chuyển lầm lạc khổ não, tức tất cả mọi vấn đề mà tâm thức khởi động. Vạn pháp duy tâm, tam giới duy thức chính là toàn bộ tâm thức này vậy. Chấp trì lấy tâm thức ấy nên có ngã và có pháp, có nhơn và có quả, có ba đời mười phương hữu hình, siêu hình v.v… Sáu mươi hai kiến chấp là cơ cấu của một tâm thức, được Trí Tuệ Thanh Tịnh soi sáng mà thấy biết như thế. Thấy biết toàn bộ cơ cấu tâm thức thì từ đó có thể dựng lập thế giới hay phá bỏ thế giới là diệu dụng của kẻ “bất muội nhơn quả”, kẻ tự do tự tại với các pháp, kẻ không cùng vạn pháp làm bạn lữ, là Đại pháp vương, là Phật, là kẻ đã làm sụp đổ ngôi nhà lửa vô minh, là người đã làm xong mọi sự, là vị ĐANG – GIẢI – THOÁT – TẤT – CẢ – MỌI – SỰ – ĐANG – GIẢI – THOÁT, không và và thời gian không còn tồn tại ở bất cứ nơi đâu ở bất cứ thiên thu hay khoảnh khắc nào.

Ÿ

Tất cả là Phật. Không có gì chẳng phải Phật. Vì vậy đừng nói đến Phật nữa. Cũng đừng hỏi “Vậy chiếc lá kia, anh và tôi đều là Phật ư ?”, vì hỏi như thế tức là phân chia, biện biệt thì chết rồi, chết rồi ắt có sinh lại, và như thế gọi là sanh tử đâu còn được gọi “tất cả là Phật”.

Ÿ

Khi tất cả là Phật, thì không còn gì để nói, không có chỗ để nói, vì mọi nói năng đều là Phật ngữ.

Ÿ

Bản thể và hiện tượng chỉ là một, nên mọi định luật đều được tự do tự tại. Thần thông do đó được phát khởi, và mọi sự chẳng có chi là kỳ bí.

Ÿ

Vì sao bạn than phiền người khác, hay hoàn cảnh sinh hoạt hằng ngày của bạn, cùng vô số vấn đề như vậy ? Thực ra chẳng phải cái bên ngoài làm phiền bạn mà chính vì bạn chẳng là “không” với tất cả vạn sự. Biết dùng thì thuận với mình, không biết dùng thì nghịch với mình, thương ghét, xấu tốt, ngắn dài, hữu hạn vô cùng … cũng chỉ có thế. Nhưng sao gọi là “Biết dùng” ? Chẳng phải là sự nồng cháy rực sáng của Trí Tuệ, Tâm không của bạn làm bạn sáng tỏ vạn sự mà được tự do dùng rắn làm rắn, dùng thừng làm thừng ư ? Bạn và cái mà bạn đang sinh hoạt không phải một, không phải hai. Vấn đề được đặt ra khi có sự chia lìa tự nội tâm bạn, vì nội tâm bạn phát khởi vọng niệm nên nội tâm bạn mới có thể tự phân chia biện biệt được. Nếu nội tâm thanh tịnh vô tướng thì cái gì xảy ra cho bạn ? Chẳng có gì cả, ngoại trừ một niềm lạc phúc vô biên không thể nói.

Ÿ

Đời sống mở ra một cái hàng rào mà có người vượt qua được, có kẻ lại vượt qua chẳng được. Người vượt qua được vì bất muội nhân quả, kẻ không vượt qua được vì mê muội nhân quả. Ở đây có hai điều nếu chấp nhận trọn vẹn như nhìn thấy rõ ràng vấn đề thì được an lành vô sự. Hoặc là chấp nhận ở lại chẳng bao giờ mong muốn vượt qua, thì hiển nhiên sẽ không còn ở lại nữa, vì ở là ở đối đầu, xung đột, mâu thuẫn với đi. Hoặc là không nhận gì cả, vì không có gì cả, ngay đến cái không có cũng không có gì cả thì hiển nhiên là không còn có vấn đề nào để chọn lựa, xoay trở, đạt thành. Vâng, vạn tượng sum suê chằng chịt nhơn duyên như vậy, nhưng chỉ nên nhìn thấy là “một” mà thôi, nhìn nhận “một” mà thôi. Hễ còn có hai thì còn có xung đột, mâu thuẫn, mất còn, có không … Hoặc là một tiếng “vâng” thì liền giải thoát, tất cả là “có” thì chẳng gì được gọi là có, là không nữa. Hoặc là một tiếng “không”, thì vạn sự vạn vật chẳng gì được gọi là cái này hay cái khác, dứt tuyệt mọi so đo, vọng tưởng thì ở trong sai biệt mà vô sai biệt, vì sai biệt và vô sai biệt không có hai pháp, hai quan niệm. Tâm thức tuôn chảy ngày đêm không dứt, ngã pháp như giòng sông không thể tắm hai lần.

Ÿ

Kiến giải như thế nên hành vi như thế, hành vi như thế nên nghiệp quả như thế. Tôi đang moi tìm mọi ngõ ngách của tâm thức tôi xem coi còn có cái gì nữa chăng, còn có vấn đề gì nghi hoặc chăng, còn có mộng tưởng nào không. Nhưng tôi chịu thua, tôi thấy nếu tôi nói khác đi, hay nói ngược lại, hay nói thế nào đi nữa thì vẫn thế. Vẫn như thế. Mọi sự bày đặt, bày đặt mọi sự chỉ là danh tướng nên không khác gì những đám mây trời. Còn lại gì ? Chẳng còn lại gì cả, chỉ vì những đám mây và bầu trời vô hạn xưa nay chẳng phải sanh chẳng phải diệt, chẳng phải có chẳng phải không, tùy tâm tôi thọ dụng. Không là gì, không có gì. Bày đặt cũng như thế mà chẳng bày đặt thì vẫn như thế. Chẳng đến cũng chẳng đến. Còn săn đuổi, cầu tìm, chạy trốn, lo sợ gì !

Ÿ

Mùa hè sắp hết và mùa thu lại về. Cứ như thế như những cánh chim bay không để lại dấu vết. Nhưng vẫn không mất. Vì xưa nay chẳng có một pháp nào được gọi là còn.

Ÿ

Do đâu mà có nhơn duyên như thế, có chấp trước thủ xả như thế … ? Vì “không” chẳng phải không, nên “không” khởi động như thế nên như thế, không khởi động như thế nên không như thế. Nên ở chỗ vạn duyên mà chẳng thấy chẳng biết vì chẳng chấp trì. Vì sao chẳng thể chấp trì, vì vạn pháp vô trụ, vô sở y. Nếu có chỗ trụ tức chấp trì, chấp trì tức vọng tưởng chẳng phải thực tướng của muôn duyên. Phá chấp ư ? Được, nhưng phá chấp mà phá sai tức là chấp thêm một cái mê nữa. Phá chấp, tức nhìn thấy rằng chẳng có gì để phá, để chấp hay không chấp. Có phá chấp được như thế thì thiện ác, trên dưới, trước sau, tà chánh … đều như thực có chỗ trụ.

Ÿ

Pháp tuy không phải hai, nhưng cũng không phải một, nên ở bầu thì tròn ở ống thì dài, ở người thì có pháp tắc của người, ở vật thì có pháp tắc của vật, như mặt trăng hiện ở ao hồ sông suối có khác nhưng chẳng có chỗ nào chẳng có mặt trăng. Vũ trụ không có chỗ nào chẳng phải pháp. Pháp là nguyên lý của vũ trụ, tìm nó không thấy chỉ thấy sự biểu hiện của nó, chỉ thấy năng lực tương diệt tương sinh của nó, nên gọi là nhơn duyên. Pháp trùm khắp mười phương tam thế gọi là Pháp thân. Pháp riêng khắp cả vạn vật sai biệt gọi là pháp tắc. Người biết pháp như thế nên được tự do tự chủ nên gọi là Phật, là Pháp vương vô thượng. Tuy rằng ở trong duyên khởi vô tánh mà biết được pháp, do vì biết được pháp nên siêu việt duyên khởi, chẳng còn dính mắc, bị nó sai xử. Do vì biết vạn sự sai biệt là nhơn duyên, là sự biểu lộ của pháp nên không còn tham, sân, si với dòng sống nữa, vì không thủ cũng không xả đối với pháp, vì pháp là không thủ không xả, không tạo tác vô tác mà thành. Thành là thành cái vốn là như thế, cái thường trụ sinh động như thế, chẳng thêm vào cũng chẳng bớt ra một cái gì khác. Nhất niệm khởi thì thành sum la vạn tượng, tuy vậy vẫn vô sinh vì các pháp sinh và diệt như thế, không có thực thể lưu chuyển, an trụ. Chơn pháp là nơi không có pháp mà các pháp được hiển bày. Nếu cho sự hiển bày của các pháp là thực hay là mộng thì vẫn chưa nhìn thấy chơn pháp. Chơn pháp ngoài mọi quan niệm, có không, tà chánh, hữu tình vô tình … Pháp đã giả lập, tùy theo giả lập mà có giả danh, thì chơn pháp cũng là giả danh, giả lập. Pháp đã “không”, thì Tâm niệm rốt ráo cũng “không”. “Không” là sự tịch lặng của các pháp. Chúng ta đang lắng nghe lá mùa thu rụng, nhưng mọi sự và chúng ta vẫn như như bất động.

Ÿ

Thực tướng của các pháp là “không”, là không có thực thể, tùy duyên niệm mà giả lập. Động và tịnh cũng chỉ là sự giả lập của duyên niệm, vì duyên niệm là sự giả danh, giả lập. Thế giới mà chúng ta đang sống, hay chúng ta là hoàn cảnh, là thế giới đang sinh hoạt cũng chỉ là “không”, vì là “không” nên mới thực là thế giới, thiên sai vạn biệt. Diệu hữu tức duyên sinh, duyên sinh tức thực tướng, thực tướng là “không”. Trung đạo là sự tịch lặng của “không” và “giả”, của diệu hữu và chơn không.

Ÿ

Không siêu hình, không hữu hình, chỉ có một điều duy nhất mà ai cũng cảm nhận được, đó là sự lập đi lập lại của niềm vui và nỗi buồn. Tóm tắt, là cái KHỔ triền miên suốt từ trên xuống dưới. Và ai cũng cảm nhận được rằng sẽ thoát khỏi sự phân ly cùng sự trở đi trở về một khi nào đó trong sự nỗ lực tìm kiếm thực tại của vũ trụ, cuộc đời. Trong đêm tối mịt mù, người ta tìm kiếm ánh sáng, người ta càng tìm kiếm, học hỏi, tạo tác … người ta càng thấy vấn đề vẫn như cũ, chỉ là sự thay đổi bù đắp tạm thời. Học để biết rồi cái biết ấy bị phủ nhận, làm để cho trọn vẹn rồi cái làm ấy bị vượt bỏ. Như thế, tri và hành không bao giờ được viên mãn, bởi vì sự toàn tri và toàn năng không nằm trong đối tượng và chủ thể nào để được thủ, xả cả. Muốn được toàn tri và toàn năng, tức biết tuyệt đối và làm xong mọi sự, con người phải trở về với chính nó, tức trở về khám phá cái ngôi nhà bản ngã nó, vì đó là điểm xuất phát của cuộc mưu tìm, mưu sự với những sự thể bên ngoài. Sau khi “giản trạch” chính mình, nó chẳng còn thấy bản ngã đâu cả, mà chỉ là một ảo giác, ảo tưởng về nó, về chính mình như là một thực thể. Toàn bộ tâm thức từ quá khứ đến tương lai được thể nghiệm ngay trong hiện tại, được đưa ra ngoài ý thức hiện lượng và như thế không còn hệ thuộc thời gian nên tâm thức không còn tướng trạng, dù là vô hình vô tướng cũng chẳng có. Tâm thức không còn chỗ sở y, nên nó cũng vô trụ. Lúc bấy giờ dòng lưu chuyển mâu thuẫn tương quan không còn thúc phược nữa, mà chỉ là một dòng sống duy nhất không có ngã, pháp chia lìa. Tịnh tâm, đó là sự chân phúc, là sự giải thoát, là sự Tự Tại, là sự Toàn Tri toàn giác. Vũ trụ không còn hiện hữu hay không hiện hữu, vì bản ngã và những hiện tượng tiêu dung hàm nhiếp như nhau như nhứt, nên chỉ còn có thể gọi tên cái dòng sống chơn như ấy bằng bất cứ lời gì cũng được như sự biểu lộ muôn trùng sai biệt của vạn vật mà không hề dính mắc, buộc ràng lẫn nhau; độc lập mà bình đẳng, tự do mà nguyên tắc, và hạnh phúc không lý do, mù mịt mà không sai trái, công bằng mà chẳng thêm bớt. Bởi vì không có gì tham, sân vì đã không còn si mê thực tại của chính mình nữa. Mỗi mỗi sự đều làm xong phận mình vì mình là bổn phận của vũ trụ, làm xong phận mình tức vũ trụ cũng toàn mãn trong mọi mọi bổn phận. Như thế, KHỔ chỉ là một sự sai lầm mê chấp về thực tại duyên khởi vô tướng. Một vòng tròn lăn mãi mãi trên con đường không có điểm tựa.

Ÿ

Mình là Thượng đế của chính mình và mọi mọi cảnh giới, mình và cảnh giới chỉ là một, cảnh giới biến hóa vì mình biến hóa, mình là vũ trụ duyên khởi. Vì là duyên khởi nên mình tự do tự tại, biết được như thế nên mình tạo tác thế nào cũng được, không khởi cũng được mà khởi cũng được, không tùy duyên cũng được. Ngoài ra, không còn có gì để nói, để đắc.

Ÿ

Tâm niệm là đại dụng của mình, mình làm chủ tâm niệm thì không còn bị vọng tưởng lừa nữa, cứ tha hồ để nó tác yêu tác quái mà mình vẫn xem như trò hề. Một trò hề vui thực sự chẳng còn nước mắt, nụ cười. Sự thăng trầm, biến hóa của một năng lực duy nhất, vì toàn bộ năng lực sai biệt cũng chỉ là cái dụng của một năng lực duy nhất, nên thấy như có biến hóa thăng trầm, thực ra chẳng phải tịnh chẳng phải động, vì “không”.

Ÿ

Toàn bộ vũ trụ cũng như thế giới, con người, sự vật … mỗi mỗi nếu được thống nhất, độc lập, tự do, công bằng chắc chắn sẽ nắm lấy hạnh phúc. Muốn có tự do, hạnh phúc thực sự phải có sự hiểu biết chân chính. Muốn có hiểu biết chân chính phải nhất tâm bất loạn. Trí tuệ là sự thanh tịnh của tâm hồn, là sự bình an hỷ lạc của thế giới … Có như thế mọi hành vi, suy tưởng mới thực sự là giới luật, nguyên tắc không khác với bản tính chân như của vũ trụ.

Ÿ

Cần nhất là đừng nên tạo tác những lấy, bỏ. Vì như thế sẽ sinh chọn lựa, xung đột. Không luyến tiếc cũng không mong cầu, mọi sự đều viên mãn ngay nơi đây và bây giờ, chỉ có như thế thì mọi sự sẽ hanh thông, như ý. Lo sợ, vui mừng, ưa thích, chê bai cảnh giới này hay cảnh giới khác hàm ngụ có một bản ngã đầy ắp tâm thức nô lệ tập quán, thời gian, dục vọng, tư tưởng.

Ÿ

Giải thoát tức vô sự, vô tâm. “Tâm không” là Trí tuệ, “cảnh không” là diệu dụng thần thông.

Ÿ

Không tùy thuộc “một”, cũng không tùy thuộc “tất cả” để mọi sự sinh khởi. Biết thế, tức mọi sự sinh khởi ở chỗ vô sinh, bất diệt; là duyên khởi vô tận, là sự tương quan không tướng, như thực.

Ÿ

Đạo Phật là đạo như thực, như thực là “không”, là chơn không diệu hữu, là không có pháp sở sanh sở diệt, vì chơn ngã vô vi.

Ÿ

Vì tâm thanh tịnh nên dạy “tức tâm tức Phật”, vì mê tâm là Phật nên dạy “phi tâm phi Phật”, toàn là tùy bịnh cho thuốc, không có một pháp trao người.

Ÿ

Không tội ở ngoài, không lỗi ở trong. Tội lỗi là sự tưởng tượng có bên trong bên ngoài nên mê chấp vào vọng tưởng mà thành tạo tác sai trái. Một niệm phát động ắt là thiện là ác, một niệm không sinh thiện ác ở chỗ nào, thiện ác đã không huống nữa là vô ký, vì hư vô cũng là sự vọng tưởng. Vọng tưởng vì không tỉnh thức. Sự tỉnh thức là sự nhất tâm không có năng và sở, là sự bùng cháy của ánh sáng không tịch. Sống, chết, ngủ … luôn luôn tỉnh thức thì không có gì được gọi là sinh tử mê mờ để phải cảm thọ khổ, lạc. Có một thực tại, nhưng thực tại ấy không ở đây ở kia, không ở bây giờ hay thời gian miên viễn, vì không có một pháp có thể được. Nên thực tại chỉ là cái giả danh của mọi sự giả danh mà chúng ta cần phải tìm về sau một lần tri kiến ma, Phật, thánh, phàm. Chơn tri chỉ hiện khi không còn thấy phàm thánh mà thánh phàm vẫn đầy đủ, không sai trái. Từ âm ra dương, từ đẹp ra xấu … chỉ là sự sinh động của cái thực tại duy nhất, nhưng thực tại sinh động duy nhất ấy không hề hệ phược xấu đẹp, âm dương nhưng cũng chẳng rời bỏ âm dương, đẹp xấu … Do đó, cũng là đi đứng ngồi nằm nhưng của người chứng ngộ thực tại duy nhất là diệu dụng giải thoát, tự tại biến hóa các pháp … còn kẻ chạy theo âm dương, tốt xấu thì bị chia lìa, lưu chuyển, nô lệ. Đi khắp thập phương tam thế cũng là “cái ấy”, ở tại chỗ này đang viết đang thở cũng là “cái ấy”, chết đi sống lại, bình an vô sự, điên tam đảo tứ… cũng là “cái ấy”. Biết được “cái ấy” thì không là có có, có là không không … tùy tiện riêng mà khắp, một niệm muôn năm, đầu hạt cải chứa núi Tu Di, đi sang Tây mà lại về Đông, mai qua Lỗ mà bây giờ đã tới … Được như thế thì gọi là chánh biến tri, minh hạnh túc … Cũng chỉ là “cái ấy” !

Ÿ

TÔI ĐANG TẠO LẬP MỘT VŨ TRỤ MÀ VŨ TRỤ ẤY XONG RỒI. TÔI ĐANG PHÁ ĐỔ MỘT THẾ GIỚI MÀ THẾ GIỚI ẤY VÔ SINH.

 

Một người sống thực sự hạnh phúc, người ấy đã đáp đền tứ trọng ân. Một người đang bước đi trên đường chánh pháp, người ấy đã trả nghiệp từ quá khứ và những nghiệp tương lai dù có biểu hiện thế nào người ấy vẫn vô nhiễm. Vũ trụ viên mãn nằm trọn vẹn nơi đương niệm nhất thể của người ấy. Tướng và vô tướng không khác, sinh lão bịnh tử là trò đùa viên mãn của Như Lai.

Ÿ

Hạnh phúc toàn mãn không thêm cái gì vào cũng chẳng bớt cái gì ra. Trong sự sinh diệt của danh tướng, cái toàn mãn vẫn như như bất động, như mặt trăng không còn không mất trong lu, chậu, sông, suối; mặc dù lu, chậu, sông, suối hiện hay chẳng hiện, còn hay chẳng còn, thêm nước hay bớt nước. Bởi vì hạnh phúc không có ý niệm, không có lý do. Ý niệm, tâm thức giống như lề đường phải trái, còn chân như niết bàn giống như con đường. Con đường dung thông tất cả mọi lý lẽ phải trái, mọi hình thái mất còn, diệu dụng biến hóa phải trái, còn mất mà vẫn Thường Trụ.

Ÿ

Mưa là mưa. Mưa không nghĩ đến mình có mưa hay không mưa, không cho mình tàn phá hay ích lợi cho ngưởi. Lợi hại tùy người, do đó nên thấy có mưa hay không mưa. Tuy nhiên ?

Ÿ

Hãy xem những gì người ta làm xấu cho mình như là dịp để mình tiêu bớt tội chướng từ quá khứ, và không nên mừng khi người ta khen tặng mình vì như vậy sẽ bớt đi phước đức mà mình có. Phước họa : Tất cả đều nhơn duyên nên không mừng, không buồn trước những gì như ý hay bất như ý. Chỉ có điều chân thật mà mình nên “giữ gìn”, ấy là bản tâm thanh tịnh vô tướng đầy đủ khắp mọi loài trong vũ trụ, nên không chê người khen người và đối với mình cũng thế. Nhất tâm bất loạn mà ăn ở, nhất tâm bất loạn mà sống chết, chẳng thêm cũng chẳng bớt một điều gì, vì trong thực tại chơn như của chính mình là vô hạn, chơn không, nhất thể, diệu hóa, viên mãn …

Ÿ

Còn mấy ngày nữa là đến ngày hoan hỷ của Tam Bảo. Tôi cố gắng làm xong những việc đang làm, như viết cho xong tập này mà tôi hứa mỗi mùa sẽ làm xong một tập. Đó là trò tiêu khiển của tôi, là “pháp môn” tôi tu học. Tôi đào xới từ bên trong mình, những vọng tưởng, những hành vi tham dục đều được đưa ra ngoài ý thức. Tôi tìm xem mọi ngõ ngách của tâm mình còn gì để lo sợ, để tầm cầu, suy lượng, hiểu biết. Phải ở trong mọi tri kiến để tự do, để sáng tạo. Vì khi không hiểu biết những giới hạn của mọi quan niệm, tư tưởng, kiến giải thì khó thoát được ma thuật lòng vòng ảo hóa của chúng. Có hiểu biết như thật những sự kiến chấp thì mình mới tự do, sáng tạo được, có tự do trong mọi tri kiến mình mới không tham sân trước mọi cảnh giới, mọi tâm thức sai biệt của mình và mỗi loài chúng sanh. Thấy Phật cũng như thấy ma, đều rõ ràng như thế, nhưng không sinh tâm niệm tham cầu, sân hận. Có như thế mới thấy một pháp là muôn pháp, thấy muôn pháp chẳng gì chẳng phải là pháp thân thường trụ. Cho đến bây gờ tôi đã thấy mình có thể sống yên ổn ở những nơi mà mình chê bỏ trước kia, và cũng không xao xuyến hân hoan những gì trước kia mình cho là phải đạt tới. Dù lên hay dù xuống, dù ra hay dù vào tôi vẫn thấy mình an trụ trong sự bình thường vắng lặng. Một chiếc lá rơi vào hồ thu, chẳng thấy động hay là tịnh nữa, vì động và tịnh nhất như, trong tịnh có động, trong động có tịnh, có và không dù biểu hiện thế nào, “cái ấy” vẫn bất sinh bất diệt. Trước mọi biến hóa sinh diệt, mình vẫn thấy biết rõ ràng đường đi nước bước, nhưng vẫn “cái ấy” chưa từng sinh diệt. Lý tánh của chơn như là như thế, nhưng sự tu thì là việc sinh hoạt hằng ngày sao cho sinh hoạt của mình thuận theo lý tánh chơn thường ấy mà tùy duyên khởi diệt. Chắc chắn là tôi phải trang nghiêm cho chính mình và thế giới bằng những giới, định, huệ của chư Phật bày dạy. Đó là con đường sinh hoạt vô hạn của tôi. Con đường chơn thiện là con đường để đi vào đi ra tam giới mà không hệ lụy bởi thiện, ác, tà kiến. Tôi thấy mọi chúng sanh đều ở nơi tự do tự tại của duyên nghiệp mình, chỉ vì không nhận thức thực sự con đường sinh tử là “không” nên bị nhơn duyên trùm vây không lối thoát. Người ta có thể tự do ngay bây giờ, nếu biết rằng mọi vọng tưởng cầu mong, tạo tác, phá bỏ đều là nhơn duyên hư vọng, vì biết như thế nên không ở nơi hư vọng nhơn duyên mà sinh tâm nắm bắt, vì không sinh tâm với duyên sự nên tâm thức liền không có chỗ trụ, không có đối tượng để tựa nương, ngã và pháp nhất như không còn thấy có mình và thế giới, không còn thấy có cái nhất thể, thực thể vũ trụ nào để đạt thành. Trong sự thanh tịnh của tâm thức, không làm mà làm, không nói mà nói, không nghĩ mà nghĩ … mọi sự thi vi không gì chẳng phải là chánh pháp, chơn pháp, như pháp. Tức không có pháp nào mà chẳng có, không có pháp nào chẳng không, không và có đều tịch diệt. Trong tịch diệt, mình sinh hoạt tự tại mà chẳng có gì khác là cái chơn tâm thanh tịnh sinh động lăn tròn chẳng thủ chẳng xả, tướng tức vô tướng, nghe và chẳng nghe đều không rời tự thể trạm nhiên linh diệu. Trong sự tịch diệt của tâm trí, dòng vận hành lưu xuất không có thiện ác, năng sở, không có dấu vết cũng chẳng không có dấu vết. Mọi sai biệt hữu hạn cũng như mọi bình đẳng nhất như đều bất khả tư lường. Bất khả tư lường cũng chẳng phải thì đem tâm địa chấp trì mà tư lường làm sao mà giải thoát được, không giải thoát tức là chẳng giác ngộ cái “không tướng bất sinh bất diệt của muôn pháp”.

Ÿ

Nhơn quả ba đời mười phương đều là duyên khởi tự tánh vô tánh, nếu chấp lấy nó làm thực thể thì là hư vọng, lưu chuyển; nếu không chấp lấy mà chẳng mê muội thì nhơn duyên chẳng phải vọng chẳng phải chơn mà cùng bản lai thanh tịnh không phải một không phải hai. Thủy chung trọn vẹn trong nhất thể vô chung vô thủy, viên mãn, không chứng cũng không đắc cũng chẳng phải không chứng không đắc.

Ÿ

Sự vật, hoàn cảnh quanh ta chẳng phải là những vấn đề xảy ra thường xuyên rắc rối hay đơn giản để chúng ta giải quyết, mà chính tâm tư của mỗi người là những vấn đề cần phải thấu hiểu. Do đâu mà tâm tư là những vấn đề chính yếu còn ngoại vật chỉ là cái phụ tùng ? Đó là vì vọng tâm ta có quá nhiều ý kiến cùng tham dục với ngoại cảnh nên ngoại cảnh trở thành vấn đề mà ta cho là cần phải sửa đổi cải tạo. Nhưng ngoại cảnh dù sửa đổi cải tạo như thế nào, chúng ta vẫn luôn luôn còn có vấn đề để giải quyết, nghĩa là tâm tư của chúng ta luôn luôn biến động truy cầu một cái bất khả, đó là niềm chân phúc vĩnh cửu. Nhưng sự vĩnh phúc ấy không có ở bên ngoài, mà chỉ có sự khám phá ở bên trong, tâm tư hoạt bát, mới mẻ của chúng ta. Sự yên nghỉ hoàn toàn của một tâm hồn sẽ hé thấy cho chúng ta sự thông minh linh mẫn mà từ đó chúng ta sẽ xử sự phải thời đúng chỗ với mọi hoàn cảnh, sự vật cùng với tâm tư thanh tịnh không có gì là lỗi đạo trái điều. Có như thế thì sự vật, ngoại cảnh sẽ không làm bận lòng chúng ta nữa, mà toàn thể bên ngoài lẫn bên trong là một dòng sống không tên gọi. Đó là sự sáng tạo muôn đời của vũ trụ vô hạn trong từng khoảnh khắc không hệ phược bởi luyến tiếc và lo sợ, so lường và mong đợi. Sự sáng tạo của thiên nhiên như những nhơn duyên vô tình, còn sự sáng tạo của chúng ta thì vô tâm với mọi duyên phần.

Ÿ

Từ sự thanh thản của tâm hồn, tôi sáng tạo nên những sinh hoạt. Tôi biết rằng vọng tưởng là như thế, nó chẳng là gì cả, chỉ do sức du hí của tự tâm mình mà biểu hiện, nên tôi đứng từ chỗ không nương tựa này mà vui chơi, tạo tác, như người làm ảo thuật. Cuộc vui chơi tùy sức, hễ dính mắc vào chỗ nào thì liền biết chỗ đó. Thêm vào một yếu tố thì hoàn cảnh đổi khác, bớt đi một điều kiện cuộc hoạt sinh cải hóa. Nhưng có cái gì ngoài mọi sự thêm bớt, biến đổi, lưu trú … thì mình luôn trở về “an dưỡng”. Đó là khởi đầu của sự sống bình an. Khi thực sự an nhiên tự tại, thì ở nơi lưu chuyển mà vẫn an nghỉ, ở nơi an nghỉ là chỗ hành động vô song, không hệ lụy. Mọi sự trên trời dưới đất không gì ngoài trò ảo thuật biến hóa của nhơn duyên. Biết tất cả là duyên khởi không tự tánh, mình có thể nhập niết bàn cũng được mà ở lại trần gian thế sự cũng được. Vào sinh ra tử nơi địa ngục mà vẫn vô nhiễm vì thâm nhập thể tánh của sinh tử, địa ngục thiên đường vốn “không”. Một chữ “không” trùm khắp pháp giới, một chữ “không” hiện hằng hà sa số sai biệt không một mảy may trần lụy. Chẳng đến cũng chẳng đến, đó là vạn pháp nhứt như, ngoài mọi tri hành, sở chứng của mọi tâm thức.

Ÿ

Tự tâm thanh tịnh không danh không tướng, vì chấp lấy thành tướng thành danh do đó mà vạn pháp có ra có vào, có sinh có diệt, có tâm không tâm v.v… Nhưng sự chấp trì dường như vô thưởng vô phạt, nó vốn không xấu không tốt, nó là năng lực đầu tiên để khởi sinh muôn sự. Chỉ vì mê nguồn gốc chơn tâm thanh tịnh vô trụ trước, mà chấp trì đôi khi là thiện là ác là vô ký, sinh ra sáu cõi ba đường như ở trong “mờ mờ nhân ảnh”. Sáng tỏ tự tâm, thì sự chấp trì hay là năng lực duyên khởi, thái cực lưỡng nghi trở thành đại dụng. Ở nơi đại dụng cùng thể tánh bất sinh bất diệt tương ưng, như lưỡng cực nhất thể. Lưỡng cực nhất thể được tự tri tự giác chứ không phải bất giác vô minh. Như vậy sự chấp trì được thức tỉnh sẽ là chỗ muôn duyên giải thoát, không tỉnh thức thì bị sự chấp trì ấy ràng buộc. Toàn vũ trụ chỉ là sự tác động của năng lực động và năng lực tịnh, biết trung hòa chúng sẽ được như ý, không biết biến hóa chúng sẽ làm cho mình mê muội chẳng còn sáng tỏ đường đi lối về của nó cùng quên mất bản lai diện mục của mình. Tuy vậy, dù biết biến hóa và làm chủ mọi năng lực nhưng nếu không “nhìn thấy tánh” tức ngộ nhập bản lai diện mục “chơn không” thì vẫn chưa thoát khổ bởi trò chơi mà mình là chủ, vị chủ đích thực chính là “không tính bất sinh bất diệt” chứng tri và điều ngự vạn hữu.

Ÿ

Mọi mục đích đều có khởi nguyên của nó, mọi khởi nguyên là tiếng cười hay giọt lệ đều là vọng tưởng, do đó mọi mục đích từ khởi nguyên vọng tưởng sẽ mang lại thiên đường hay địa ngục, tức những năng lực thanh thoát hoặc triền phược. Chỉ có mục đích duy nhất ấy là sự giác ngộ, giải thoát nó khởi từ sự ý thức triệt để mọi mục đích đều tương đối, khổ lạc, dịch chuyển. Từ sự ý thức triệt để khổ đế như vậy, chúng ta mới lên đường bằng sự khởi nguyên chân chính. Chính sự lên đường, sự khởi nguyên chân chính đã đem lại cho chúng ta sự an lạc chân thực, không xung động bởi những tham dục bất thường. Ngay nơi đây, chúng ta thấy rằng cái đầu tiên cũng chính là cái cuối cùng, do vậy, không thấy có mục đích nào nữa để thành đạt. Con đường vô hạn đã mở ra cho kẻ vô thủy đi vào vô chung chỉ là pháp thân thanh tịnh chẳng phải tuyệt đối hay tương đối có thể suy lường được.

Ÿ

Thoát vượt sự tầm thường của cảm giác, tưởng tượng, suy niệm và kiến tri tôi biết được đời sống bình thường ngoài mọi đối lập, như biển lặng chiều thu trăm nghìn dòng sông chảy xiết đổ mạnh vào cũng không hề xao động. Tôi thấy tôi cảm ứng với nhiều cách điệu ở đời, dù có sự lên xuống đổi thay muôn trùng cách biệt, sai khác … tôi thấy tôi như biển nổi sóng không hề tăng giảm lượng nước của đại dương. Thủy triều là cách điệu ở đời, to nhỏ, lặng động, dồn dập, thong thả … cũng không làm biển xao động, thủ xả. Gương trong ứng hiện vạn tượng đi, về, sinh, diệt … nhưng không hề có năng sở; vì vật và gương trong chỉ là cách nói. Không hề có một vật huống nữa là gương trong.

Ÿ

Sự tự chủ thân tâm và thế giới không gì bằng thực sự vô sự. Một người vô sự là một người hiểu biết như thực rằng mọi vọng động và vọng tưởng đều vô ích, dù có ở trên trời hay dưới đất gì đi nữa cũng chỉ là nhơn duyên, vô thường. Do đó, người vô sự không còn móng tâm khởi động thủ xả cao thấp, mê ngộ. Tâm thực sự an tĩnh, cùng ngoại cảnh nhất như, không tăng không giảm. Ở chỗ vô sở trụ tướng này vì lợi ích chúng sanh mà làm cho an ổn, vì tùy duyên mà giải bày muôn pháp, nhưng không có chỗ thủ đắc, xả trừ. Người ấy ở đây nhưng cũng ở khắp cả chỗ, ở khắp cả chỗ mà không ở chỗ nào. Người ấy ở ngoài mọi quan niệm, cảnh giới. Khắp thế gian không ai rõ biết người ấy là gì !

Ÿ

Khi còn trẻ tuổi, tôi lẩn quẩn trong sự kiến giải của mình, cùng với những quan niệm, tư tưởng của kẻ khác, kể cả đạo Phật. Bây giờ tôi chạy vòng quanh tôi để bắt chúng làm trò hề cho tôi xem, tôi thích lắng nghe tôi cũng như lắng nghe mọi thế sự cùng đạo lý khắp trời người nhưng tâm tôi không còn xao động; mọi thứ đều có vẻ qua đi như câu thần chú : “Yết đế yết đế ba la yết đế ba la tăng yết đế bồ đề Tát bà ha!”. Dù có khai quật trong quá khứ một hệ thống tư duy nào vĩ đại, kỳ bí hay ở nơi hiện tại có một bậc Đạo sư thuyết giảng điều chưa từng có trong thế gian, hay nơi tương lai vô tận có một quan niệm, thị kiến nào đi nữa … tôi vẫn không hề xao động mà cũng chẳng thủ chẳng xả khi biết đến chúng. Ngày trước tôi thường kiểm điểm mình còn gì để làm, để nghĩ, để nói, để sống, để chết … thường tự hỏi đã thành tựu hay hoàn tất gì, … bây giờ tôi thấy không có gì ở trước, ở sau, ở tại đây bây giờ, được xong hay chẳng xong. Thời gian và không gian không còn trì ngự trong tâm hồn tôi nữa, vì lý tưởng, vọng tưởng, tư tưởng, mơ tưởng … là gì v.v… chúng hết còn ý nghĩa, biểu tượng đối với tôi. Có lẽ, cần diễn tả cho văn vẻ, tôi là một dấu hiệu, một vĩnh cửu lóe sáng trong nguồn sáng của thiên thu. Một bài học duy nhất cần thực tập, đó là đừng đứng ở trước đừng đứng ở sau cũng đừng đứng ở giữa cũng lại đừng lưng chừng trong Dòng Sống. Được như thế, mình là Dòng Sống, là sự Đại Hòa Điệu, không thường không vô thường, không động cũng chẳng tịnh … Bởi mọi khổ đau thương ghét xảy ra khi mình đứng trước hay đứng sau … Dòng Sống mà chẳng là Dòng Sống, như Dòng Sống. Sự lạc lõng, cô đơn của mọi sinh thể là sự quá nhanh hay quá chậm trong bản giao hưởng hòa tấu với cái toàn diện nhất thể của Dòng Đời, nên nó phải đi tìm kiếm sự hòa điệu, tức chân lý, chơn phúc, chơn tri. Khi một sinh mệnh đã “nhập lưu” với Dòng Sống Bất Sinh Bất Diệt, nó thoát ngoài mọi quan niệm tạo tác, nếu có sự chấp trước ấy chẳng phải sự rời lìa Tính Thể mà chấp trước, nhưng do vì Dòng Sống Như Thị Hiện Thể Là Thế. Tiếng cười lặng lẽ là Diệu hữu chơn không, mọi sự chấp trước đều tốt đẹp sau khi nhìn thấy mọi kiến chấp đều lầm lạc. Bởi vì không nhận thức triệt để, toàn diện và sinh động mọi vọng tưởng, vô minh mà bị ảo ảnh của chúng làm nên ảo giác của mình thành thử mọi sự nghiệp đều xung động, sinh diệt, loạn tâm. Khi vô minh được soi sáng, thì mọi vọng tưởng xưa kia là chướng ngại, nay là châu báu tùy dùng. Thời Thể và Hữu Thể chỉ là một. Vì là một nên không chỗ trụ trước, hiện hữu hay phi hiện hữu đều là trò đùa của Tính Mệnh. Trò đùa là sự Tự Do của Chơn Tri.

Ÿ

Cửa ngõ mở ra để đi vào Đạo Lý chơn thường có lẽ không gì khác hơn là sau khi đã trải qua mọi kinh nghiệm đau thương, sung sướng và các thứ tương đối giả ngụy như thế rồi thì từ bỏ tất cả sự vọng ngoại tìm cầu, từ bỏ tất cả mọi viễn mộng, thần tượng, tin tưởng … để đi về đối diện với lòng mình. Sự cô đơn ngút ngàn của phủ định triệt để, sự nỗ lực đốt cháy mọi ưu tư của nội tâm, con người bỗng nhìn thấy được chân ngã bất sinh bất diệt của mình. Mọi sự mâu thuẫn, xung động, ảo vọng bên ngoài lẫn bên trong không còn tác dụng, mặc dù nếu muốn, nó vẫn cứ tồn tại như thuở nào, nhưng không có gì kỳ lạ, bí hiểm đối với một kẻ đã tự tri tự giác, rằng “Vạn pháp giai không”.

 

Tôi biết rằng ngay hiện giờ đây vô số tư tưởng đang bay qua trong bầu trời tâm tôi, nhưng không hề gì, vì tôi biết chúng như thế mà chẳng giữ lại cũng chẳng đuổi trừ. Cái xấu và cái tốt tôi đều nhận như nhau, một cách bình đẳng sáng suốt nên xấu và tốt đều tiêu dung vô chướng ngại.

Ÿ

Những gì mà tôi đang viết đây không còn quan trọng và cần thiết nữa, tôi đang vẽ thì đúng hơn, tôi đang tập thể dục cho thân tâm thoải mái, một trò tiêu khiển thú vị và không đòi hỏi một nghi thức nào. Chỉ có mình tôi biết, mình tôi hay. Mai kia con cháu tôi có tình cờ đọc được, tôi không mong gì hơn là chúng sống và chết bằng nụ cười lặng lẽ muôn thuở muôn nơi của đức Phật. Riêng tôi, tôi đã thực sự là kẻ ngu, kẻ trí, kẻ lam lũ, kẻ nhàn tản … bằng tất cả những đối cực và trung dung. Tôi còn một thời gian nữa để sống, và sống vô tận trong tương lai. Mọi sự thành đạt là không thành đạt gì cả hay là sự hoàn tất vô hạn trong những thành tựu của chính mình. Từ khoa học kỹ thuật, khoa học nhân văn (chính trị, kinh tế, quân sự …) văn nghệ, triết lý đến đạo giáo tôi không còn hoài nghi, thắc mắc gì. Tôi thực sự bình thường, tự nhiên hay phản tự nhiên một cách siêu việt. Tri thiên mệnh, thuận nhĩ, hóa dục … đều là những từ ngữ chân thực chẳng phải là lý thuyết suông. Nếu có cái gì được gọi là lý thuyết suông hay tri khác, hành khác … thì đối với tôi cũng là một thực tại, và vì là thực tại nên mọi vọng tưởng, thi vi đều viên mãn trong tự thể vô sinh của chơn tánh. Tôi thực sự “thông cảm” vì sao thánh nhân sống chẳng có vấn đề gì để bận tâm ngoài cái việc bình thường “đói ăn khát uống”, tạm gọi đó là Đạo vậy.

Ÿ

Không biết rồi tôi có viết nữa hay không viết nữa về “cái ấy”, nhưng “cái ấy” vẫn là thế dù là gì đi nữa thì “cái ấy” vẫn là sự sáng tạo muôn đời. Vô minh cùng bản giác đồng tuổi. Tôi không còn bận tâm đến những gì tôi đã viết từ quá khứ như quá khứ đời tôi là hiện giờ và tương lai tôi cũng chẳng bận tâm mình sẽ làm gì ra sao vì hiện giờ là cái tương lai về hội tụ. Rất tiếc tôi không thể viết tất cả thứ trên đời trong một lúc một chữ được, nên chỉ còn một nụ cười xanh ngát trên những cánh đồng lặng lẽ lúa chín thơm vàng mà tôi muốn gửi tặng cho những kẻ chăn trâu.

Ÿ

Có lần tôi nghĩ mình nên dẹp tất cả đi và chỉ nghĩ, nói và làm bằng chơn ngôn của chư Phật, như thế thực là … khác thường. Nhưng tôi thấy rằng như thế có khác gì mình ở ẩn trên núi cao, chi bằng mình vẫn hiện thân nơi phố chợ, nói làm những gì phố chợ nghĩ mà thực ra ngay đến một tiếng vớ vẩn nào đó như là “là” cũng là chơn ngôn, thần chú, linh phù rồi đối với mỗi người mỗi kẻ chúng ta. Phải không ? Vậy hiển mà vẫn ẩn như thường, ẩn mà hiển được thực là vô phương nắm bắt, hết chỗ nghĩ bàn.

Ÿ

Không còn gì nữa để tôi kính thờ tán tụng, vì tôi quỳ lạy cả trời cao cùng hố thẳm. Như vậy, tôi đã thâm nhập tình thương thắp sáng tận cùng vũ trụ. Không còn gì nữa để tôi vĩnh biệt giã từ, vì tôi chính là sự sống và cái chết. Như vậy, tôi đã thấu đáo lời đại nguyện.

Ÿ

Sự kỳ bí nhất của mọi sự kỳ bí, có lẽ đó là sự lập đi lập lại mà chưa từng cũ cũng chưa từng mới. Sự lập đi lập lại sẽ nhàm chán, sẽ luân hồi, sẽ thúc phược nếu chúng ta không biết chơi trò chơi kính vạn hoa. Cũng với một cái lay động đó mà đóa hoa nào chẳng giống đóa hoa nào. Vì mỗi đóa hoa đều độc đáo nên sự lay động cũng vô cùng mới mẻ … Nếu chúng ta thực sự hiện tiền, chúng ta thấy ngày tận thế nhập một với ngày sáng thế.

Ÿ

Khi sự sinh và sự tử không có một khoảng cách thời gian nào thì chúng ta nhìn thấy mọi biến óa như một giấc mộng. Người nằm mộng là ai ? Cũng chính là giấc mộng. Tuy nhiên !

Ÿ

Người nằm mộng không dính líu gì đến giấc mộng, vậy mà nó thấy trong giấc mộng nó có sinh ra và có tử, có ở đây với tên họ, hành vi, ý nghĩ, sự nghiệp và có ở kia với tuổi tác động hành sinh sống v.v… nhưng người nằm mộng vẫn không hề sinh tử, ở đây ở kia với những động hành sự nghiệp … Dù mê hay đã tỉnh người nằm mộng vẫn không hề dính líu đến giấc mộng mình.

Ÿ

Nếu phải xuống địa ngục vì một sự sai lầm nào đó trong cách tu học Phật pháp, tôi vẫn để toàn thể sinh mệnh mình tán thán Phật pháp. Phật pháp xuất hiện ở thế gian như là một cái gì không thể so sánh được, nếu thế gian không có một đại sự nhơn duyên này có lẽ nó sẽ trống rỗng biết chừng nào, và vô lượng chúng sanh sẽ sống chết một cách vật vờ qua lại như những bóng ma ghê gớm không thể tưởng tượng được. Vâng, tôi sẽ loại bỏ tất cả những ham mê thế gian, để chỉ giữ lại một ham mê duy nhất : Phật pháp ! Đó là sự cố chấp của tôi và tôi muốn giữ lại sự cố chấp này như một cái gì còn có thể giữ lại, ngay đến khi đánh mất bản thân mình.

Ÿ

Thực hiện Phật pháp là thực hiện sự toàn mãn của chính mình chứ chẳng phải là sự đồng hóa hay tưởng tượng mình là cái gì khác. Tất cả mọi đạo sư chân thực đều mang lại cho mỗi chúng sinh sự trọn vẹn của chính nó, thoát ngoài mọi ảnh hưởng và tùy thuộc.

Ÿ

Mọi suy tư cùng mọi biểu tượng, mọi tông phái cùng mọi quan niệm về Thực Tại đều được thu nhiếp về Tự Tâm Như Nhất. Do đó, không còn lý do gì để khen chê bất cứ một phương tiện thiện xảo nào. Tất cả đều cần thiết và quan trọng trong mọi bước khởi đầu, để từ đó đạt tới cứu cánh viên mãn, thì mọi phương tiện và cứu cánh không còn cần thiết và quan trọng nữa. Khi người ta thực sự giải thoát và giác ngộ thì không còn có pháp nào để thủ xả.

Ÿ

Thế gian là một trường phủ nhận và chấp nhận liên tục và đồng nhất từ tư tưởng đến hành vi. Sự thống nhất này mang lại sự phân ly khác, sự phân ly nọ đem đến sự thống nhất kia, cứ như thế cho đến khi khẳng định rằng thế gian là như thế vì nhìn thấy sự vô thường và vô ngã của nó. Sự khẳng định tối hậu tiêu dung mọi mâu thuẫn để xuất sanh sự hòa điệu của vạn pháp. Và như thế, những xung động sẽ không còn mà chỉ là một niềm an lạc sinh hóa linh diệu cùng khắp pháp giới. Sự viên mãn của cái đẹp và cái xấu, giữa phiền não và niết bàn sẽ không còn biểu hiện nữa, vì chúng chỉ là sự Duy Nhất của muôn duyên, sự Tịch Lặng của nụ cười và nước mắt.

Ÿ

Với Trí Tuệ với Từ Bi với Hùng Lực, tôi biến chúng thành ngọn lửa nồng nhiệt ôm trọn vẹn trần gian vào lòng mình. Phật pháp là gì ? Nếu chẳng phải là sự nhìn thấy như thực thế gian không bằng vọng tưởng mà bằng sự Thanh Tịnh Vô Hạn của lòng mình. Vọng tưởng là gì ? Chẳng phải là một sinh ra muôn pháp. “Một” là gì ? Chẳng phải là nhất niệm ? Niết bàn hay chẳng niết bàn, bất nhị pháp môn hay vô lượng pháp môn cũng từ sự chấp trì vào nhất niệm này. Nhất niệm này là vọng tưởng cũng là Trí Tuệ.

Ÿ

Pháp chẳng phải làm chẳng phải không làm, nên đắc pháp chẳng phải dễ chẳng phải khó, chẳng phải một công đức hay nhiều công đức … Làm người là khó hay dễ ? Khó hay dễ là vì có làm, làm tức tác pháp, tức đem “pháp cầu pháp” đặt vào khuôn thước nào đó nên bèn có khó có dễ. Pháp vốn tự do nên chẳng ở mẫu mực nào mà là tất cả mẫu mực. Nguyên lý Tối thượng thì không có, nhưng mọi pháp tắc là Nguyên Lý Tối Thượng.

Ÿ

Phật, ấy là cuộc vận hành không mục đích của cái “không là gì cả”, Đi và Về nơi vô hạn. Hoặc, nghiệp, khổ là tiến trình của thời gian tâm lý. Tâm trí của chúng ta luôn luôn nắm bắt một cái gì đó, hoặc hiện tại, quá khứ, tương lai để tự xác định bản ngã mình. Nó, tâm thức không bao giờ nhìn thấy cái “không là gì cả”, tức tâm thức luôn luôn náo động để tạo tác nên trần gian lưu chuyển này. Bởi vì có nghĩ tới quá khứ, có tưởng tới tương lai, nên trong hiện tại có cái gì gọi là bản ngã, có biến hóa sinh diệt, có cảnh nầy người nọ. Nếu biết được diễn trình của tâm trí là không thực, như quá khứ đã xảy ra rồi bây giờ không còn nữa, tương lai chưa đến và hiện tại chỉ là một ý niệm của tâm trí tự chấp lấy một vị thế để cho mình hiện hữu cùng mê vọng. Vô minh luôn luôn chạy bắt một cái gì đó mà chính nó phóng hiện ra. Biết được cái không thực này thì thấy vạn pháp không có chỗ trụ, không có mục đích, không có đắc cùng không có không đắc. Nếu có mục đích để đạt thành, ắt có phương tiện, pháp môn; như thế chúng ta tự giới hạn mình bằng những nhân quả luân lưu của bản ngã mình. Cho nên không có một phương pháp, phương tiện nào để đạt tới chân lý cả. Chân lý là cái không thể đạt, không thể chứng, vì ngoài mọi nắm bắt của tâm quá khứ, hiện tại, vị lai, tức tư tưởng, dục vọng, cảm quan của bản ngã mình. Chân lý là cái “như thế”, vô hạn lượng, không bao giờ tựu thành và hoàn tất vì chân lý đã hoàn tất và tựu thành trong từng sát na tâm niệm rồi. Cái bây giờ viên mãn thường trụ.

Ÿ

Thái cực là mẹ của mọi đối cực, mọi đối cực là vạn hữu biến hóa lẫn nhau. Thái hòa mọi đối cực nên gọi là mẹ. Không nghĩ mình là mẹ của muôn loài tức là vô cực. Vô cực là “không tính”, Thái cực là “Diệu Hữu”.

Ÿ

Mọi thi vi tạo tác dù tinh thần hay ngoại vật nếu chấp trì tức sinh tâm thức luyến ái ngã kiến, từ đó lấy tâm thức tức bản ngã này cảm thọ, tri giá, kiến giải … vạn sự thành ra vạn sự chẳng còn tự do lưu xuất nữa, mà chỉ lưu chuyển trong cảnh giới của tự tâm thủ trước, nếu hợp thì đồng không hợp thì chẳng đồng, bao nhiêu rắc rối phát sinh. Cho nên, khi nói “không có một pháp để chứng đắc” bèn chấp trì lấy thì thành ra tà pháp, tức lấy “pháp không” làm chỗ trụ, tức gánh nặng vừa bỏ xuống lại nhặt lên.

Ÿ

Thế giới khách quan không thực vì từ chủ quan mà có. Do có chủ quan sai biệt mà có thế giới khách quan sai biệt. Chủ và khách đối nhau vì vọng tưởng mà thành. Biết như thế không còn chấp trì vọng tưởng hay dứt vọng tưởng nữa. Chủ và khách đồng thể, tùy hiện cảnh giới mà không chướng ngại.

Ÿ

Khi nào mọi vọng tưởng về mình, về cái của mình hay không phải của mình … nghĩa là toàn diện bản ngã được nhìn thấy như thực là chuyển dịch và tương quan như thế giới khách quan vô chủ, lúc đó mình chính là “chơn không” và từ đó mình để cho mọi cái từ ngoài vào hay từ trong ra như chúng ta vào trong hư không, chẳng hề tạo tác, lưu ngại … Một sự tịch lặng như hư không mà nơi đó vạn hữu được lộ bày. Vạn hữu không làm tịch cũng chẳng làm động được hư không. Chỉ như thế thì mình mới hành động như vạn hữu động hành; mình có thể nói năng, suy tưởng … mà không hề có ngã và ngã sở, pháp hay vô pháp làm mực thước để khuấy động, huyễn vọng.

Ÿ

Toàn thể vũ trụ không có gì ngoài tâm và vật, ngoài ngã và pháp. Đó là năng lực biểu hiện vô cùng vô tận, lưu chuyển và tương quan. Một Dòng Sống tuôn chảy mãi mãi. Bằng một sự thức tỉnh duy nhất, không thể nghĩ bàn, Trí Tuệ sâu thẳm, không đáy đã khám phá toàn diện tiến trình của Dịch Hóa, Hữu Thể và Thời gian. Trí Tuệ vô cực ấy đã được chiếu sáng và là chính nguồn sáng của Tâm Linh Tịch Lặng sau khi năng lực biến hóa tự trở về với nguồn cội là thái cực, để nơi đây tựu thành một bước nhảy mà vì sự chấp trì vào ngã và pháp đã trở nên hư không và cái nhảy “không hư” ấy cũng không còn nhìn thấy chính nó nữa. Mọi khổ đau đều tiêu trừ và vũ trụ không còn quấy rầy vì những đối thể nữa, nhưng mọi xung động, mâu thuẫn có thể xảy ra nơi chơn ngã như là một bài Tụng Ca muôn thuở lạc phúc, vì nơi đây không còn thấy có “tôi” cái “của tôi cùng tất cả các thứ do vọng tưởng dệt thành. Trước kia, vì từ sự thủ đắc tâm thức như là bản ngã đã nhìn thế giới bằng đôi mắt thuận và nghịch với nó, bởi vì nó có những cặp kính màu kết dệt nên bản ngã cùng thế giới mà nó sinh hoạt không khác, gọi là vọng tưởng. Vọng tưởng bây giờ, nghĩa là khi đã giác ngộ và giải thoát khỏi bản ngã, vọng tưởng trở nên sự mầu nhiệm bất sinh bất diệt của các pháp. Cái đầu tiên cũng là cái cuối cùng, cái vĩnh cửu cũng là cái nhất tâm vô niệm, cái mục đích tối hậu cũng là phương tiện thiện xảo, vì nơi đây đã dứt bặt mọi động và tịnh, chủ và khách : Tiếng cười lặng lẽ. Vâng, dù vũ trụ có sụp đổ hay ồn ào trong sự tái sinh, chơn tâm viên mãn ấy vẫn bất sinh bất diệt, vẫn chẳng nghịch và thuận với các pháp mãi đi về. Tôi chẳng còn biết nói thế nào nữa khi tôi thấy thực sự rằng tôi (tức vọng tưởng) không hiện hữu thì thế giới chẳng hiện hữu. Vì thế giới chính là sự vọng tưởng của chính tôi, và vọng tưởng không còn phát sinh từ bản ngã – dục vọng, tư tưởng … thì toàn thể vũ trụ là Pháp thân Thường Trụ, Tam thế mười phương là một Đạo Tràng An Lạc.

Ÿ

Dù có nghĩ, nói, làm gì đi nữa thì cũng ở trong vòng hữu hạn, sinh diệt, vọng chơn. Biết như thế và đặt gánh nặng này xuống thì chơn tâm tuyệt đối chính là sự như thực của vạn pháp. Sự như thực của vạn pháp mở toang như vầng trăng sáng soi những đám mây trôi tan. Sự tịch lặng của tâm thức chính là sự thực của các pháp được sống dậy trong bất sinh bất diệt. Mọi năng lực xưa kia ràng buộc, nô lệ vì vọng tưởng phân ly nay đã thái hòa trong sự Tùy Thuận Không Tính.

Ÿ

Chúng ta đang sống và chúng ta đang chết. Sống chết chỉ là một. Vừa sinh ra lần đầu và chết đi lần cuối. Dòng vận hành như nhứt miên viễn. Sống ư ? Chết ư ?

Ÿ

Với Trí Tuệ sâu thẳm, không đáy “tôi” thả vũ trụ lang thang như những đám mây trên bầu trời, vô định. Không đi từ đâu cũng chẳng đi đến đâu. Sự hạnh phúc tịch lặng không tướng nằm trong tất cả mọi sự mọi vật.

Ÿ

Chúng ta sắp chết nay mai, nhưng chúng ta vẫn sống như là trường sinh bất tử, vì dòng sống ấy chảy đi như dòng sông vô tận qua những thác ghềnh sinh tử mà vẫn không hề gì.

Ÿ

Không có gì tồn tại dù trong một khoảnh khắc, vì không có thực thể, thực tại nào. Chỉ là sự biến hóa vô cùng mà ngay đến sự biến hóa cũng không có nữa. Một giọt nước cũng không phải là chính nó, không bao giờ là nó nếu nó không biết đến sự thực của “không tính”, tức siêu việt có và không, sự nhứt như giữa động và tịnh mà ngay đến sự như nhất này cũng chỉ là một vô minh căn nguyên. Một sinh thể được giải thoát khỏi mọi hữu hạn khi nó ý thức triệt để và toàn diện rằng nó là một điểm linh quang của vũ trụ vô cùng mà điểm linh quang đó cũng vô cùng như vũ trụ. Cái chung và cái riêng không còn hiện hữu. Ánh sáng đó thường trụ mà linh diệu, nên chẳng thể quan niệm như thế này hay như thế khác. Không – phải – thế – này – không – phải – thế – kia – chính – là – như – thế – mà – nên – thế – nọ – thế – này.

Ÿ

Thực ra bản ngã hay toàn bộ tâm thức chẳng phải là điều đáng từ bỏ, chỉ vì không ý thức trọn vẹn chơn ngã chính là cái “không” mà nơi đó mọi bản ngã được viên mãn. Từ bỏ là từ bỏ mọi chấp trước để cho cuộc vận hành của mọi sai biệt được tự tại vô ngại mà có tên gọi là chơn ngã, hay là “không tính” của các pháp. Bản ngã trọn vẹn, viên mãn chỉ là sự nhìn thấy không tính của ngã và pháp. Ngã và pháp chỉ vọng tưởng khi nó không nhìn nhận vô thường và vô ngã của các pháp, sự biến hóa tương quan. Ngoài sự biến hóa tương quan không có gì cả, không là gì cả. Chính an trụ trong sự “không là gì” ngoại trừ nhơn duyên khởi động, bản ngã được an lạc.

Ÿ

Toàn bộ cuộc đời hay nói một cách triệt để hơn là Thập nhị nhơn duyên, hay Tứ diệu đế được Đức Phật phân tích trình bày cặn kẽ về chúng như là “không”. Nếu kẻ nào nhìn thấy trọn vẹn cái có và cái không như là “không” thì kẻ ấy đã thực sự chứng ngộ chân lý tối thượng, và từ đó hắn vận dụng tự do tùy thuộc “không” mà sinh hóa, mà niết bàn v.v… Bản ngã chính là chơn ngã của hắn và của vũ trụ sinh linh không khác.

 

Vũ trụ, thế giới quanh tôi được “có đó” như là để tán tụng tôi. Và thật ngu dại khi tôi nhận cái này mà không nhận cái kia. Và cũng thật khờ khạo khi mà thế giới giống như tình nhân chơi trò cút bắt, chọc ghẹp, ghen hờn với tôi mà tôi không nhận ra để xem đó như là dấu hiệu của tình yêu mà thế giới chung quanh dâng tặng tôi. Một nỗi giận từ đâu tới ? Một lòng tham từ đâu khởi ? Thật là si mê khi không biết chúng là những thứ mà chính mình tạo ra, xảy ra nơi chính mình chứ không từ một cái gì khác. Như đi trong rừng biết hoa thì thưởng thức nó, biết gai góc thì tránh sang mà đừng dẫm vào. Nếu còn có điều gì làm sỉ nhục bạn mà bạn nhẫn nhục chúng tức bạn còn có sự si mê trong chính mình và thế giới rồi. Tất cả những điều ngược lại thế cũng như vậy. Bạn chỉ lắng nghe, nhìn thấy, thọ dụng mà đừng tác ý vào vì sự tác ý chỉ là phiến diện, dù ở mọi chỗ đứng nào để quan sát, phê phán, giải thích … ! Không có gì, không là gì cả, chỉ là duyên khởi của các pháp, sự tác động qua lại của âm dương mà thành sinh tử luân hồi; Thái cực chính là sự duyên khởi đó, chính là sự vô minh đó mà cũng chính là sự giác ngộ đó. Sự lưu xuất của các pháp không có người có ta, không có tâm không có vật, không có sự không có lý. Pháp ấy chính là chơn pháp, thể ngộ chơn pháp gọi là giác pháp, ngộ đạo hay Phật tâm chơn như cũng thế. Nếu chẳng ngộ chơn như duyên khởi các pháp thì liền bị các pháp lưu chuyển trong sáu đường như có vào ra, sinh diệt, tức có bản ngã và phi ngã xung động làm năng duyên, sở duyên mà cảm thọ, tri giác, dục vọng, tri kiến …

Ÿ

Đến với thế gian như ngọn lửa đốt cháy huyễn mộng, làm ánh sáng vĩnh cửu, cho đời, hoặc bị thế gian đốt cháy bằng ngọn lửa dục vọng muôn đời làm huyễn mộng, tử sinh. Chỉ có hai con đường đó với khách lữ hành đơn độc, một ngọn lửa duy nhất để bước đi.

Ÿ

Từ bỏ hết, từ bỏ hết để không còn gì, không còn gì. Và yêu thương một cách vô điều kiện cuộc sống này, bạn sẽ thấy không có cái xấu xa ác trược, một niềm thanh tịnh vô bờ reo vui vô hạn toàn thể vũ trụ này trong từng cái một, không chọn lựa, phán đoán, suy lường …

Ÿ

Một lần sống và một lần chết và như thế không bao giờ và như thế mãi mãi …

Ÿ

Yêu thương làm mọi tội lỗi và xấu xa đều nên thánh tiện. Không có từ bỏ cái gì, không loại trừ cái gì, Tình Thương là vậy đó. Sự thanh bình vô hạn của tâm hồn, sự hạnh phúc tối thượng không gì khác, mà chính là Thương Yêu.

Ÿ

Từ bỏ hữu hạn trần gian, bản ngã (thân tướng, cảm giác, tri giác, dục vọng, tư tưởng) để trở về với cái vô hạn vốn xưa nay thường trụ là thế. Đã trở về với vô hạn rồi thì hữu hạn trần gian là đóa hoa muôn màu, vĩnh cửu, chơn phúc. Không còn lấy không còn bỏ dù là một pháp.

Ÿ

Con người đã sáng tạo nên một đức Phật bằng Tri Thức Tối Thượng như thế, Siêu Thoát như thế, Đại dụng như thế và con người cũng đã sáng tạo nên những cái trái ngược nhau một cách tuyệt diệu như thế. Quả nhiên con người là một vô hạn ở trong lớp vỏ hữu hạn của mình. Tôi tin tưởng vào con người và yêu thương tất cả mọi ẩn ngữ của đời sống. Sự sáng tạo là một ẩn ngữ, là một trò đùa mâu thuẫn muôn đời mà không có chi là bế tắc cả. “Mọi sự đều tốt đẹp !”. Đó là thần chú vô thượng của con người đã lên đường bằng sự rực sáng của trí tuệ sáng tạo.

Ÿ

Những gì tôi viết như viết về một câu định mệnh. Một câu định mệnh đã viết xong, tôi liền thuận theo tính mệnh mình mà rong chơi vô định. Nhân ngày Đại nguyện Địa Tạng vương Bồ tát, tôi chấm dứt tất cả danh sắc để chừa lại một trang trắng như lòng mình hàm dung vạn vật.

Ÿ

Sự vô trước cùng cố chấp đối với tôi không còn ý nghĩa. Thời gian là những khói mây của một người chạy trốn cô đơn. Vũ trụ tâm linh thì cô đơn, còn mọi sự mọi vật cũng cô đơn như vũ trụ nhưng chúng còn có tiếng cười. Tiếng cười làm nên sự lặng lẽ của niềm cô đơn tối thượng của kẻ không ở ngoài cũng chẳng ở trong …

Ÿ

Những gì tôi viết hôm nay thì một triệu năm sau tôi cũng viết như thế. Bởi vì sự biểu hiện tiếng cười thì như huyễn như mộng, còn niềm im lặng mới là sự sáng tạo vĩnh cửu của con người.

Ÿ

Chúng ta có thể làm bất cứ cái gì, ngay đến vô vi vô tác là để trở nên một cái gì đó, nhưng niềm im lặng vẫn có đó trong mọi tiếng cười. Như cái vòng tròn ([) đã hàm ngụ (O) cùng với hai kẻ yêu nhau ([). Sự giải thoát của trí tuệ thanh tịnh là niềm yêu thương không giới hạn. Nó là sự sáng tạo trong ngần của trời đất mà trời đất chẳng tự sinh tự diệt. Trời đất chính là sự sáng tạo, là sự để cho trời đất cùng với vạn sự như là thế.

Ÿ

Không nói về cái gì, không tô vẽ một sự kiện, không cầu mong thấu hiểu chân lý … Vì tất cả đều chỉ là sự sáng tạo từ sự vô duyên của Đại bi tâm. Sự tịch lặng của hạnh phúc không nằm ở bờ bên kia cũng chẳng đứng ở bờ bên này. Một thế gian sinh ra và một thế giới diệt mất cũng chỉ là cơn mộng của kẻ mơ ngủ. Vũ trụ chưa hề sinh chưa từng diệt, vì nó chẳng ở đâu cũng chẳng không ở từ bao giờ. Mọi vọng tưởng điên đảo mê lầm về pháp được dọn sạch khi mình thực sự yên lặng để nhìn một đám mây chiều trên bầu trời xanh đen của đêm tối sắp về.

Ÿ

Nhờ cái gì mà có sự tương – quan – tương – nhiếp – giao – cảm – lưu – thông ? Phải chăng là cái nhất tâm vô tướng của mọi mọi hữu tình vô tình ? Nếu không có chơn tánh thì vạn sự vạn vật đều tắt mất tự bao giờ ! “Không tính” ấy là tương quan, vô ngã, vô trụ vậy.

Ÿ

Bạn biết yêu tức là bạn đã đi khắp thế gian rồi vậy. Bạn đã làm cho nỗi khổ đau của bạn thơ mộng như ráng trời chiều. Tình yêu ấy đã làm cho bạn bắt gặp một khoảnh khắc thanh tịnh của tâm hồn. Còn cái chết ? Nếu bạn chưa biết chết là gì thì đời sống bạn quả nhiên đau khổ, lao lung. Nếu bạn chết được tức bạn đã biết đời sống là gì. Vì chết cũng có nghĩa là sự thanh tịnh của Trí Tuệ, Tình Yêu.

TỪ AN  : 01275934607

 

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *