TỤNG CA BẢN NGÃ

 

LỜI NÓI ĐẦU:

Tất cả vì tình bạn. Tất cả vì lòng muốn chia sẻ những gì của bạn tôi với mọi người. Nên tôi chọn 1 ( TỤNG CA BẢN NGÃ ) trong 7 quyển sách nhỏ mà anh Từ An đã gửi. Thật tình tôi có đọc và phải nói là với trình độ tôi, tôi không hiểu mấy. Nhưng không phải vì thế mà tôi không đăng. Rất mong có người đồng điệu để không bỏ mất một bông hoa lạ. Xin mượn 2 câu thơ của thi sĩ Bùi Giáng mà anh Từ An đã sử dụng trong quyển sách này

Tâm tình một nẻo quê chung. Người về cố quậnmuôn trùng ta đi ” để kết thúc cho lời giới thiệu quyển TỤNG CA BẢN NGÃ của tác giả TỪ AN. Bs Huỳnh Hải.

TỤNG CA BẢN NGÃ

Rửa sạch ngôn ngữ vị ngã, chấp thủ hai bên

hay nhiều chiều, khái niệm, mâu thuẫn … thì ngôn ngữ vô sanh. Có thể nói Phật pháp ngắn gọn để nghiệm xét : Đó là vạn sự vạn vật trong tâm ngoài cảnh (vốn tự phân biệt do thấy lầm) trùm khắp vũ trụ pháp giới không ngoài tính duyên khởi, nó chẳng thường còn chẳng đoạn diệt vì nó không tự tánh vậy. Sinh tử, niết bàn như huyễn, duyên khởi, không tính. Đã không tự tính, không thực có thì làm sao nắm làm sao bỏ, vì không thấy được người nắm, bỏ; không thấy được cái bị nắm bỏ; không thấy được sự nắm bỏ. Do đó, làm sao tham (nắm), sân (bỏ), si (vừa nắm vừa bỏ) nổi lên. Đã không nổi lên thì đâu cần diệt, chỉ, nhậm, tác. Cũng chẳng có không tham sân si, cũng chẳng có giải thoát hay tri kiến về chúng. Hết thảy đều không tịch, bình lặng, thấu suốt … Vì không tự tính nên mới biến hóa được, mới sáng tạo được. Vật chẳng phải vật, tâm chẳng phải tâm, chẳng có cái ngã nào thực có vì nó là duyên khởi vô sở đắc, mà vô ngã cũng lại như vậy, muôn pháp như vậy. Nên không phá ngã, không chấp ngã, không chuyển ngã … vì hết thảy tùy duyên, vô sở đắc không ! Người ngộ Tính không này là Phật, và Phật cũng là Pháp, do đó nói Phật trụ trong mười pháp giới, tức Tâm không tính, tự tính giải thoát, không gì chẳng liễu tri, vì chỉ là nhất chân không tánh duyên khởi này mà thôi. Thấy tính duyên khởi của ngũ uẩn, thập bát giới, chúng sinh tính, Phật tính là “không”. Chẳng thể suy tư mà suy tư, chẳng thể bàn luận mà bàn luận, chẳng thể như thế mà như thế… Phải biết.

l

Tư duy là thời gian (ba thời) nhằm thiết lập (mười phương) không gian tri thức hòng bao trùm cả vạn sự vạn vật, kể cả tư duy, tri thức, chủ khách … Nhưng nó luôn là bất toàn và cái ngược lại tư duy (không tư duy) cũng bất toàn. Có thể là do ngôn ngữ , luận lý không diễn tả hết tư tưởng. Nhưng nếu thấy tánh của ngôn ngữ, luận lý … thì tư tưởng cũng chính là Tư Tưởng (Như Huyễn), nó là Lời Tụng Ca sống động chứ không còn là luận lý cứng chết nữa ! Đó cũng là công án cho những triết gia, đạo sĩ, kể cả khoa học nghệ thuật chân thực muốn khám phá cuộc sống vĩnh cửu không giới hạn bởi những quan điểm, chủ thuyết nào, dù là của bậc Đạo Sư giác ngộ thực tướng của vạn pháp. Như vậy, người tư duy tự do với mọi tri kiến, vô nhiễm với tất cả mọi cảnh giới sinh tử, niết bàn. Khi còn mê chấp thực hư, thì suy tư có lỗi mà không suy tư cũng là lầm. Ngộ được cái tâm trụ trước (người tư duy) là không có bản tính thì hết thảy viên dung vô ngại, toàn hảo. Cái ngộ đó xuyên suốt sinh tử, phiền não vô minh mà không hề phá tướng cũng chẳng chấp tướng, dù là tướng vô tướng. Như biển nước sẵn sàng sóng mòi sông suối sạch dơ… chẳng ngại chẳng dính … Thấy tánh thành Phật là thực biết nhơn duyên sinh ngay trong từng niệm, nó đầy đủ ngay tại đây và bây giờ (sát na) ba thời và mười phương, đều là không tính cũng là tính không của vạn pháp vậy. Nói lục đại duyên khởi, ngũ uẩn giai không, mười tám giới duyên khởi không thực tính … là để chỉ cái “Tâm” nhất chân pháp giới, cái Tâm không ngã tính chẳng phải một chẳng phải khác với mọi sự mọi vật, mọi vọng động hay tịch diệt của tưởng niệm sai biệt bình đẳng. Do đó nó sinh động, linh hóa, chân như, huyễn như. Vũ trụ pháp giới tự tâm duyên khởi không tính vô lượng vô biên cảnh giới như vậy. Cái này là cái này, cái kia là cái kia, mỗi mỗi cao thấp chậm mau … đều thanh tịnh bản nhiên đâu có can hệ hay không can hệ đến nhân quả luân hồi ? Nhân quả luân lưu là sự kết nối, tương quan, duyên hệ với … nên có thế giới khái niệm, danh tướng, hư vọng. Nếu không biết điều này, cho nhân quả duyên sinh là thực có thì nỗi khổ vô minh không dứt. Nghiệp báo tánh không, chẳng phải là không có nghiệp báo mà là duyên sinh vô ngã, nên gọi là không mà cũng chẳng phải hữu. Lìa ngoài phi vô còn là giả danh, thì thực tại duy tâm sở hiện bất khả đắc, vô sở trụ đâu phải là điều bày đặt ! Tâm thanh tịnh là nhất tâm là vô tâm, không tính. Ở đây không còn Ta bà để gọi, không có Tịnh độ để bàn, không có nhân duyên quả báo để được, không có sinh thành hoại diệt để lo toan, không có chuyển động vì không phải nhân duyên tan hợp theo kinh nghiệm thấy biết. “Sự vật” vốn vậy, nghĩa là không có tính tùy thuộc, nó tịch diệt hiện tiền, nhưng tâm thức không tự tính nên tùy duyên mà nhìn thấy sai khác, liên kết thành trường nhân quả trùng trùng điệp điệp với những luật tắc, định đề, nguyên lý mỗi mỗi cấp độ riêng khác, nhưng đều là vô sanh vô ngã cả. Như thế nghiệp báo có hình tướng hay vô hình tướng đều là tâm thức, nhưng tâm thức tính không như hết thảy pháp. Tính duyên khởi vô ngại với tất cả (sự), và tất cả tướng động tịnh cũng chẳng làm ô nhiễm lý tính không, vô sở trụ được, nên chấp hay vô chấp đều tự do nơi vô tự tánh không. Vì vậy nói sát na tâm có nhiều niệm hay nhất niệm là sát na tâm đều chỉ bày thời gian không có tự thể nên không thể quy định, nhưng cũng chẳng phải bất định là được, ngôn ngữ danh sắc cũng lại như vậy. Truy tìm tâm pháp đều vô sở đắc, bất khả thủ, tuy chẳng thể được mà hay tùy duyên hiện hết thảy tâm pháp, nên nói vô sở đắc cũng vô sở đắc. Tâm cũng chính là Pháp, đó là cái tuyệt kỳ của Đạo lý Duyên Khởi không tính diệt không tính sinh, không tính động, không tính tịnh, không tính phàm, không tính thánh, không tính vọng, không tính chân … cũng là tự tâm là Phật là Pháp là Tăng … Nên bạn không thể đạt “vô ngã” bằng cách làm sao hay lúc nào ở đâu … vì cái “vô ngã” hay Tính không lúc nào nơi nào cũng “vô ngã” rồi, nó là “sự thực” nên lúc nào nơi nào cũng “hiện tiền”. Còn cái ảo ảnh về ngã tính độc tồn nó sẽ tự mất khi bạn ý thức triệt để toàn diện về sự mê lầm này là không tính, tùy duyên hiện hữu, tô son trét phấn, làm này làm nọ … tuy có vẻ là hiện hữu nhưng không phải là thực, vì sinh diệt, vì khi có, khi không, khi vừa có vừa không, khi chẳng phải có chẳng phải không … Và cũng thấy rằng ngã (con người, phi nhơn …) và pháp (ngũ uẩn, thập bát giới …) đều chẳng thực, mà tự tâm duyên khởi như vậy, chẳng có chút tự do tự tại. Nước chẳng phải nước chỉ tạm thời là nước, mắt tai mũi lưỡi thân ý cũng lại như vậy. Khi “ngộ” nhân duyên thì Tâm vô điều kiện cũng là Tâm tịnh bản nhiên, nó chẳng ngại có không, đến đi … vì chẳng phải hai chẳng phải một, vì bất nhị, vì nhất chân pháp giới, bất tức bất ly. Do đó nói vô minh là Phật tính, chúng sinh chỉ là Tánh khởi. Hằng ngày bạn bị những điều kiện cùng những khái niệm, quan điểm ràng buộc bạn, bạn có biết không ? Chính đó là “Khổ đế”. Bạn chẳng làm gì được với nói như con voi bị lún bùn, càng làm sao để thoát càng lún xuống đến hết biết luôn ! Bạn có thực nhìn thấy nỗi khổ của bạn, bạn có vô tâm quán sát những ngóc ngách trói cột này không ? Như người bị ảo giác, thức tỉnh một lần, thử hỏi còn có gì ! Cũng vậy, bạn có vẻ như chết đây sinh kia mà thực sự thì chẳng có cái gì sinh cái gì diệt hết, từng từng niệm sinh diệt như vậy chẳng mới cũng chẳng cũ vì nó chẳng có tướng trụ, tướng vô trụ, chẳng có tướng sắc chẳng có tướng phi sắc, chẳng có tướng pháp chẳng có tướng phi pháp, chẳng có tướng tâm chẳng có tướng vô tâm … Bạn không bắt đầu khi bạn sinh ra và không có chấm dứt khi bạn chết, nhưng cũng chẳng liên tục tương tục tập tục … chi cả, mà lại không gián đoạn gián thời gián cách chi hết … Hết thảy tư duy mà loài người để xây dựng một hệ thống chủ thuyết về mình về vũ trụ đều sai lầm từ căn bản, (trừ ý căn duyên với pháp trần sinh ý thức, cảm xúc … vốn tính không thì không nói, chỉ tệ là nắm lấy “chất xám” này mà xây “tổ ấm” thì tai hại của vô thường vô ngã khổ sẽ có chỗ viếng thăm thôi). Do đó phải thấy thực rằng những danh tướng, ngôn luận … đều là trò đùa của tâm thức bị giới hạn (phải giới hạn mới tung hoành, biến hóa được). Cho nên không có sinh tử, không có thúc phược cũng chẳng có chỗ thanh khiết … chỉ là ảo tưởng, và bạn chỉ biết là ảo tưởng có nhưng không bao giờ thực là bạn đã bước vào Đạo lộ vô sự rồi. “Sự sống” (Hữu thể, Đạo, Pháp …) vĩnh cửu (phi thời) thì không trụ vào đâu cả, cũng chẳng phải là không trụ (vì không có chỗ trụ) bởi Đạo lý thì sinh động linh hoạt không lường. Khi nói tâm thì không còn là tâm nữa, khi nói vật thì tìm kiếm chẳng ra, khi nói giải thoát, vô minh … thì cũng chẳn thực có vô minh hay giải thoát, vì có cái gì để giải thoát hay giải thoát khỏi cái gì đâu ! Tất cả tri kiến tham luận tham bái … tham thiền … đều không dính dáng đến Thực tại tịch diệt, nhưng cũng không phải không có tri kiến, và tri kiến chẳng đến được, chẳng nắm giữ được … thì không sợ gì phải buông bỏ. Nắm chẳng được thì bỏ cái gì, do vậy mà nắm buông tự tại ! Phật pháp chỉ là phương tiện thiện xảo ba la mật, không phá ngã cũng không chấp vô ngã, chỉ là “sáng tỏ” những ảo tưởng ràng buộc giải thoát là không thực có, không do ai hay do “cái gì” làm ra cả. Một tâm thức tự do, không đáy với vô minh cũng như giác ngộ thì nó không còn áp đặt, gọi tên, chỉ chỏ cái này cái khác, nó thực sự vô nhiễm vô sanh trong mọi động hành, tri kiến, chủ trương, đường lối, đối lường … Vô tận này đến vô tận khác, không đổi, bình lặng, tự do vô ngại, không uế tịnh … chỉ là thay tên đổi họ cho một cái vô danh vô tướng mà thôi. Tóm lại, Phật pháp chỉ có một điều đáng nói đó là vạn pháp giai không, vô đắc vô thất … và tất cả đều như vậy dù là tà thuyết, cũng được xây dựng trong không tính và cũng chính là không tính ! Toàn thể giáo lý của chư Phật đều nói về Pháp, mà Pháp thì “không đáy”. Nhưng giáo lý dạy ông “thủng đáy”, bằng cách này hay bằng cách khác làm sao cho “thủng đáy”. Người thượng thừa nghe Pháp liền triệt ngộ cái “không đáy”, rồi cũng phải ngồi tòa Kim cang (trước kia là thai bào sinh diệt) cũng tức là Đáy để thuyết “không đáy” qua việc “thủng đáy”, vì “không đáy” là sự Im Lặng Tối Thượng vượt ngoài nắm bắt. Người Tiểu thừa thấy pháp nhân duyên sanh bèn ngộ nhập cái vô sanh, vô điều kiện là Niết bàn, bậc Đại thừa thấy pháp nhân duyên sanh tức vô sở đắc, ngay sinh tử là Niết bàn, sâu cạn sai khác nhưng cũng đều “nắm” “không đáy” làm chỗ diệu dụng hằng sa không vết tích. Đó cũng là điều mà các đấng tìm kiếm Sự Thực đều phải choáng váng khi đứng trước cái “không đáy” này, ít có người trực nhận mình là “cái đó”, họ đều quay về chỗ “Nương Tựa” để an thân lập mệnh !

l

Từ khi muốn viết lên những ý kiến của mình, tôi đều nói chuyện tào lao xịt bộp, nhưng cũng chỉ là để nói cái điều vừa nói về “thủng đáy” với “không đáy”. Hôm nay tôi nguyện không đề cập đến những chuyện vớ vẩn ấy nữa. Tôi thử viết về tôi. Đây là đề tài thân thiết nhất, khó có thể lạc khỏi đề tài như những đề tài bá láp, bịa xạo mà trước kia tôi đã đề vấn. Hôm nay thử quán sát sự khoái lạc có phải làm phát sinh khổ đau và vì sự khổ đau nên ta đi tìm khoái lạc, cứ thế làm thành cái vòng tròn chuyển động xoáy lốc ngửa nghiêng, khi thì thô khi thì tế, đến nỗi không nhìn thấy chúng được. Tuy có cái không nhìn thấy được nhưng chúng vẫn hiện hữu, nhưng chúng có vẻ mất đi rồi lại xuất sinh rồi lại trổ bông rồi lại thành quả rồi lại rụng xuống rồi lại mọc lên, dù không mọc lên như trước, chúng lại thành một thứ khác góp phần vào cái có trước, có sau như vòng nhân quả duyên sinh bất tận … Đương nhiên là không phải khoái lạc tự độc lập và khổ đau thì cũng thế, chúng có vẻ nương tựa, biến hóa, kết nối, tương tục, bất định, mơ hồ … Và hết thảy sự sự vật vật lại cũng như thế. Chúng có vẻ hỗn độn nhà ma mà lại trật tự, chính xác từng mảy may. Chúng có vẻ không độc tồn mà lại ta đây số Z, độc đáo vô nhị. Khi khổ đau thì chỉ là khổ đau, khi khoái lạc chỉ là khoái lạc, chúng chẳng tự sinh, chẳng sinh từ vật khác, chẳng có sự hòa hợp cộng trừ nhân chia chi ráo, nhưng chỉ một máy động là chúng đã thay mày đổi mặt rồi. Và vì sự ảo hóa khó nắm bắt như thế, nên luôn luôn có luật tắc cũng không thể quyết định. Chúng có vẻ chẳng tương quan liên hệ gì hết, nhưng dường như cũng có nhân duyên quả báo đủ đầy. Khoái lạc chẳng có giá gì phải trả, khổ đau chẳng dính dáng gì đến khoái lạc. Mỗi thứ đều tịch diệt nơi chính nó, rồi thì tâm thức vọng động chạy theo sự phân biệt mà thành lập bao quan niệm chia ly (hòa hợp), mà thực ra phân biệt chẳng có lỗi phải gì, chỉ là tâm thức không thể chẳng chạy theo để nắm bỏ mà thôi, vì tâm thức cũng rỗng không như sự sự vật vật khác nên nó có những hành tác động tịnh như thế, không khác gì trái lúc lắc muốn hiện hữu mà không hiện hữu, không hiện hữu mà muốn hiện hữu … Vậy thì “thực thể” về tôi chẳng thể thành lập, không một vật có thể được thì tụng ca cái gì ! Trò huyễn này đã nói xong, nhưng Tính huyễn thì chẳng mất, nên tiếp tục chơi trò, huyễn sự.

l

“Một niệm mê lầm bèn sanh muôn pháp”.

Thực ra thì muôn pháp tịch diệt, vô sanh … luôn luôn như thế dù mê hay ngộ. Chỉ vì không biết một niệm là muôn pháp nên nói mê lầm. Như thế thì tu cũng giải thoát, không tu cũng giải thoát, vừa tu vừa chẳng tu cũng giải thoát, chẳng phải tu chẳng phải không tu cũng giải thoát … Vì vạn pháp (sinh tử, niết bàn, tâm, cảnh …) duyên sinh cũng tức là không tính, cũng tức là giả danh cũng tức là Trung Đạo, mà Trung Đạo thì bát tất, chẳng thường, chẳng đoạn …

l

Khi sinh chẳng biết, khi tử chẳng biết, nhưng khoảng giữa là cái mà ta gọi là hiện hữu, cuộc sống, sự đời chúng ta biết nhiều thứ và cũng có nhiều thứ không biết, rốt cùng thì cũng chẳng biết cái gì ra cái gì cả, chỉ tạm gọi là có biết chút đỉnh. Nhưng mà, sao lại “biết” được những điều đó chứ, biết được cái biết và không biết và chẳng phải biết chẳng phải không biết …? Phải chăng là chỉ có duy nhất là một cái biết ? Ngoài ra không có chủ, khách, đúng, sai, chơn, vọng … chi cả ? Và khi cái biết này “hiện diện” thì mọi mọi mỗi mỗi đều thanh tịnh vô tác ? Như sinh ra (biết) khi chết đi (biết) khi sống còn (biết) và khi ở thể dạng khác (biết) … Và không có vấn đề gì cả dù có vô số vô lượng vấn đề (muôn pháp vô pháp pháp).

l

Sự vật sự việc lúc nào cũng trình bày rõ ràng về chính nó, còn chúng ta (loài người) thì áp đặt những ý kiến, ý nghĩ … về nó. Thử hỏi cái cây thì cái cây không trả lời chi cả, vì nó đang trả lời rồi. Hỏi Tư tưởng thì tư tưởng cũng đang trả lời bằng các tư duy của nó. Hỏi tâm thì tâm biểu hiện bất tận rồi, như hết thảy là tâm thì đem tâm quán tâm cũng là tâm mà không tâm, vô tâm, v.v… cũng là Tâm. Điều lạ lùng ! Phương pháp phương tiện cứu canh mục đích cội nguồn cũng đều lại lộ bày toàn chân.

l

“Bạn không là cái này không là cái kia, bạn chính là “cái đó” !”. Tức là bạn “đang là”. Bạn có nó và hết thảy, nhưng bạn vẫn tự do với nói, thực sự là bạn vốn tự do như vậy, nếu không thì bạn đã là cái này hay cái kia rồi !

l

Pháp giới tính duyên khởi chưa từng đổi, vậy vì sao có bất tịnh, vô thường, vô ngã, khổ, không, niết bàn ? Ấy là vì Pháp giới không tính vậy. Pháp tính là Phật tính là Không tính vậy. Tham sân si mạn nghi tà… chẳng hạn, chúng thực sự là không tính, nên chúng vốn tịch diệt, toàn giác. Sự thực là vậy.

Liễu ngộ sự thực này thì không gì chẳng thấu suốt, chẳng như chẳng huyễn, ngoài mọi chẳng thật, chẳng phi thật.

l

Tu thì dễ, không tu mới khó ! Vì sao khó ? Giống như “một mình (Tâm) ngồi trên núi Đại Hùng” ! Còn tu hành làm này làm nọ như thuở mới ra đời cho đến già chết đều muốn nắm lấy, tìm kiếm, khám phá … một cái gì đó, đi đến một nơi nào đó gọi là Chân, Thiện, Mỹ … là Tuyệt Đối chẳng hạn. Thực sự thì bạn (Tâm) tuyệt đối viên mãn viên dung viên trí viên đức “từ lâu” (vô thủy vô chung) rồi !

l

Đọc Kinh luận hay bất cứ cái gì chẳng phải ngôn ngữ tư tưởng cũng vậy, hiểu hay không hiểu đều không quan hệ. Bởi vì có “cái gì” vượt qua tâm trí, ngữ ngôn, tướng trạng của người đọc rồi ! Đó là sự im lặng trên hết mọi sự im lặng và ồn náo, nên nó mới lĩnh hội thế này thế khác cũng như thiết lập tạo dựng vô lượng vô biên …

l

Vì sao bạn nể vì các bậc Thánh và xem thường bạn, và xem thường những cái gọi là tầm thường ? Bận vốn them khát uy lực, dựa dẫm vào bất cứ cái gì mà bạn “tin” là nó “kinh khiếp” “kỳ lạ” vì bạn không biết chi về nó cả. Do đó bạn nghe và làm theo những gì họ nói thì bạn sẽ càng nể phục họ vì bạn trải nghiệm đúng như vậy. Thưa bạn, chẳng có gì phải thể nghiệm, ngoại trừ bạn bày đặt ra rồi bạn vui chơi với nó, hết trò này đến trò khác, cuối cùng bạn cũng chán và bạn thức tỉnh rằng không là gì cả, tuyệt đối im lặng nơi từng con sóng vỗ bờ (vô bờ !).

l

Có trường phái cho rằng chỉ hiện tại là thực, còn trường phái khác cho ba đời không có, lại trường phái khác nữa thì chấp nhận đầy đủ ba thời quấn quit nhau làm nên không gian, vạn sự vật nhảy múa từ hữu sang vô, rồi vô về với hữu … Thử hỏi thời gian do ai tạo, phi thời do ai làm ? Bảo rằng không có ai cả, nó vốn là như thế. Đã là như thế thì còn có thời gian, phi thời gian chăng hay toàn là những tạo tác để thấy rằng chúng chẳng thực tí nào cả rồi im lặng vô tác. Nhưng im lặng vô tác như thế thì chẳng phải thực là im lặng vô tác, vì im lặng vô tác thì không nghĩ nói làm chi cả, mà thực là có nghĩ nói làm đấy chứ ! Đằng nào cũng kẹt ! Kẹt rồi muốn tìm thoát ! Nhưng thoát đâu cho khỏi, bởi kẹt nên thoát thì thoát cũng chỉ là nhà tù mới. Ai tạo nhà tù vậy ? Vì sao có nhà tù để tạo ? Có sự tạo ra nhà tù ? Xem kỹ lại hết thảy mê lầm một cách toàn diện triệt để thì một niệm liền xong ! Có lâu mau gì chăng ?

l

Nếu hết thảy là Tâm (mình) thì có còn gì nữa để đạt hay không đạt đến chăng ? Tâm là đói đau, vui buồn, khổ sướng, có không, còn mất, chơn vọng, sinh tử niết bàn, chúng sinh và chư Phật, pháp giới và pháp thân v.v… Nó là hữu hạn mà cũng là vô cùng, nó độc lập mà lại nương tựa, nó là ràng buộc mà cũng là giải thoát, nó bao hàm hết thảy mà không gì có thể ngăn ngại, làm dơ hay sạch nó. Nó tạo dựng phiền não, thiết lập phương pháp thoát ly và bày ra cứu cánh niết bàn ! Vốn xưa nay như vậy, thì còn gì “để” hay “tại” hay “là” hay “sao”, không thể nói gì về nó được, vì nó đã đang và sẽ nói và vượt quá mọi thời mọi xứ rồi. Chỉ là một cái “thấy” như thị như nhiên như vậy thì còn gì ngoại trừ những trò huyễn tịch diệt của chính nó, có trước sau, cao thấp, trong ngoài v.v… chăng ?

l

Nếu là vô hạn thì bạn là trung tâm ở bất cứ đâu. Nếu là hữu hạn thì bạn cũng là trung tâm tùy bạn xác lập, bởi hữu hạn thì có xa gần, mau chậm, tốt xấu, tiến thoái, khởi đầu và cuối cùng dù là to hay nhỏ … cũng đều là Tâm bạn. Nhưng Tâm thì lúc này lúc khác, bạn thì chỗ này chỗ kia, khi thì dừng trụ, khi thì chuyển động vô chừng … nên tìm “Tâm” chẳng thấy, kiếm “bạn” chẳng ra, toàn là trò đùa cười ra nước mắt ! Đằng nào (thập phương, tam thế) thì hết thảy đều Tự Tại Tự Do vô ngại vô song rồi. Bạn biết hay chẳng biết thì cũng như vậy mà thôi.

l

Có thể nói những cách thức chăn trâu, cày ruộng… là hữu chiêu, nhưng phải dùng vô chiêu mới tùy duyên được. Tu hành cũng thế, tất cả giáo lý dù bất cứ ai nói ra cũng như việc cày ruộng, chăn trâu … để được mùa hay mất mùa hay chẳng được cái chi cả. Nên ở trong tất cả mọi tri kiến mà không phải trụ trước vào bất cứ tri kiến nào, cũng như người có được tất cả pháp mà không sinh tâm sở hữu pháp, dù vô sở hữu cũng không, và không là buông nắm đùa vui vậy. Sự im lặng tuyệt đối dường như không lìa cũng không phải là sự ồn náo của.

l

Bạn có cần phải xem lại chính mình cũng như nhân loại phải xét duyệt lại những gì đã qua ? Những gì bạn xét duyệt, tư duy, quán chiếu, hành xử, … thực sự chỉ là những vết chim bay, liệu có còn nắm bắt hay buông bỏ một cái gì để rồi sửa sai, điều chỉnh hoặc tạo lập một cái hoàn toàn khác thế ! Dù bạn có làm gì hay không làm gì cả cũng như “gọi đò một tiếng lạnh hư không” !.

l

Mọi sự mọi vật đều do mình “Muốn”. Chẳng hạn, ai cũng muốn hạnh phúc nhưng lại không được hạnh phúc là vì họ muốn làm những việc ngược lại hay không đúng với hạnh phúc mà họ muốn tìm, do đó chỉ có sự thỏa mãn tạm thời rồi tuyệt vọng, lại đi tìm kiếm tiếp. Khi muốn hạnh phúc họ không ngờ rằng, chính cái muốn đó hàm ngụ có cái không muốn, tức đau khổ, như vậy cái muốn bị phân chi nên có thiên đườg, địa ngục, có cái lấy và có cái bỏ, nhưng cả hai đều đến như sinh diệt tương tục, rồi chẳng biết làm sao, cứ xung đột, chọn lựa … Nhưng nếu nhận rõ hai điều trên thì cái muốn lại là “như ý”, nó xuyên suốt bao trùm, dung thông hết thảy, không chi chẳng đủ.

l

Bạn chớ chạy lung tung. Phật pháp chỉ có một pháp (nhất thực tướng ấn), là chứng ngộ sự thực là vậy. Vạn pháp sự thực là vô sanh, tùy duyên mà hiện tướng, vốn Tịch Diệt, Niết Bàn, chân như. Chính trí vô sanh, vô học, vô chứng thực thấy vạn pháp như nó là, xưa nay thường lạc ngã tịnh. Cái trí vô sinh vô ngã vô tướng đó phủ định tất cả mọi tạo tác khái niệm về các pháp, và nó cũng phủ định chính nó, để cho phiền não bồ đề chỉ là giả danh, nhưng Thực tướng chẳng ngại nó, và không thể ô nhiễm bởi sự cài đặt sắp xếp của nó. Sự phân biệt của tâm trí ý thức cũng chính là sự vô phân biệt, nhưng nếu bạn dùng một nửa thì nó trở thành vô dụng để khám phá sự thực này. Vì bạn hướng ngoại (hướng nội hoặc trung dung) để tìm cầu nên bạn thấy có chủ khách, có không, pháp cùng phi pháp … Rồi bạn cố nắm lấy một sự an nhiên tùy thích nào đó, tức là bạn muốn bỏ đi cái giả để được cái giả khác. Sự thực thì không thuộc về chân vọng, thánh phàm …, nên bạn lại phải lên đường phiêu lưu mới, chẳng bao giờ dứt, trừ khi trực ngộ cái thấy nghe hiểu biết của bạn vốn không tính bất sinh bất diệt, bạn sẽ không còn vấn đề gì nữa. Tự tâm bạn bị điều kiện hóa nên sản sinh ra sự sự lý lý, rồi vô số vấn đề nảy nở, bạn bị cột trói bởi nó rồi cũng tự tâm bạn (vốn không tính) tạo tác học tập phương pháp để giải quyết vấn đề rồi cũng tự tâm bạn chứng đắc vấn đề là không hay có là thực hay hư…! Bạn tìm kiếm đạo sư để ấn chứng cho bạn, vì bạn không biết Đạo sư chính là Tự Tâm bạn, đầ đủ không thiếu thốn dù vô minh hay bất cứ phẩm tính nào.

l

Hết thảy là Tưởng tượng bắt nguồn từ cảm thọ của những giác quan mà thành quan niệm, lý thuyết, thực hành …

l

Sự đời cũng như vô lượng thế giới không khác gì Sóng trên Biên.

l

Nếu tất cả pháp tính duyên khởi thì còn làm gì hay không làm gì ? Dù có làm hay không làm cũng là duyên khởi, và duyên khởi cũng chỉ là một pháp nên không có đầu cuối, căn nguyên chi cả. Khám phá điều này (Duyên Khởi) mới thấy hết thay Tịch Diệt, Niết Bàn, không tính, vô sở đắc, vô trụ vô trước …

l

Nói hết thảy chơn hết thảy vọng đều là chân như tự tính là vì không còn nhìn vạn sự bằng con mắt chủ khách, có không …

l

Khi nói không động không tịnh là chỉ cái “vô nhất vật” rồi, nhưng cũng chẳng cho rằng không động không tịnh là khác với động tịnh, mà là “tùy duyên”. Đạo lý Tùy Duyên cũng là Đạo lý vô sinh bất diệt, nó cao sâu, rộng lớn không ngằn mé, nhưng nó cũng chẳng chấp trước vào không ngằn mé, tìm nó chẳng ra kiếm nó chẳng được, chẳng đợi làm hay không làm mới hiện, vì khi hiện thì trong suốt lặng lẽ, khi không hiện thì vô ngấn tích, vô điều kiện, vô khứ lai …

l

Phương tiện thiện xảo ba la mật cũng là cứu cánh, ngay đó là Đạo, chẳng có Đạo nào khác để đắc, chẳng đến chẳng đi …

l

Vì sao bạn thích cái Tịch lặng, trong khi nó là “bạn” ? Chính vì bạn muốn nắm lấy nó nên nó vô thường vô ngã khổ không chứ chẳng thực chứng Niết bàn tự tính như thị. Nó ở nơi sinh tử phiền não chớ chẳng lìa mà có hay là một với phiền não sinh tử mà được. Chỉ là “nhìn thấy” bản tính không tính của sinh tử bồ đề … Khi đó nhân quả rõ ràng chẳng phải giải thoát chẳng phải ràng buộc, hết thảy là trật tự duyên khởi vô ngã vô nhơn vô chúng sinh vô thọ giả…

l

Mọi giáo lý, kiến thức, tri giải, ngôn ngữ, luận bàn “về” đều chỉ là nhất tâm chân như duyên khởi không tính … Tìm cái tâm này cho đến vật nọ hoàn toàn bất khả đắc. Bất khả đắc cũng vô sở đắc vì vô sở đắc viên mãn thể tướng dụng của một và tất cả … Vô sở đắc (vô trụ) là chỉ “an thân lập mệnh” của chúng sinh (mê) và chư Phật (ngộ). Và dù mê hay ngộ thì vẫn vô sở đắc, cho nên nói chư Phật có ra đời (ngộ chân lý Tính Không Duyên Khởi vô tác) thì “Pháp”, Đạo, Tính,… vẫn như ! Cái mê cũng cần thiết như cái ngộ, nếu không thì còn có gì để nói vì hết thảy là Niết Bàn Vô Niệm !

l

Bạn cứ rong chơi cho thỏa thích nơi Thiên đường, Địa ngục do tâm bạn sáng tạo, khám phá, … Rồi bạn xem coi có cái gì để sáng tạo, khám phá cùng với sự rong chơi như thế không ? Nếu có thì cũng vô đắc, mà nếu không thì cũng vô đắc, cái vô lượng vô biên (hữu vi vô vi …) mở ra cho bạn như nó “ở đó” từ thuở chưa từng mê chưa từng ngộ rồi.

l

Không có bản thể luận nào cả, nên họ lập hiện tượng luận để thỏa mãn nhu cầu trí năng, tình cảm, ý chí … Thực ra thì bạn biết làm gì khi mà “chẳng là gì cả” phải không, cho nên bạn phải suy nghĩ nói năng hành động cho vui vậy. Chỉ là vui vậy, vì bản tính của vạn pháp vốn là vậy, nhưng thêm vào bớt ra cũng là điều không khác với bản tính, thực tướng vô tướng …

l

Các pháp vô sở đắc (duyên khởi không tính) làm sao lấy, làm sao bỏ …?

l

Cuối cùng thì chẳng quét dọn, sửa sai sửa đúng chi cả … Ngay vô minh vọng tưởng cũng là diệu dụng hằng sa của nhất tâm không tính mà thôi.

l

Nếu bạn “vô tâm” trong thấy nghe hiểu biết … thì hết thảy danh sắc đều là tướng bồ đề, mà nếu tâm bạn bi điều kiện hóa mà nghe thấy hiểu biết thì cũng tuyệt vời vậy.

l

Thấu hiểu giả danh là ý nghĩa của Trung Đạo, cứu cánh của vạn sự là giả danh mà cũng là Trung Đạo. Bạn đã làm nên bông hoa cũng như bùn đất, dù là trong thực tế hay tưởng tượng, mà kỳ thực chẳng là gì cả ! Mọi sự xưa nay (bổn lai, bản tính) là vậy, nghĩa là như thế cũng được mà không như thế cũng được v.v…

Cuộc sống có rất nhiều trò giải trí (ngay cả tôn giáo, triết lý, khoa học) đủ loại đủ cỡ khắp mọi chiều kích thỏa mãn mọi thân tâm. Nhưng chúng rất không quan trọng và cần thiết cho người biết nó (mọi trò). Bạn như con nít nắm lấy cái này rồi chán lại tìm cái khác ôm vào, bạn thực sự chẳng nhai cho kỹ một lần xem coi mùi vị nó ra sao. Bạn chẳng bao giờ trưởng thành vì bạn nô lệ, phụ tùy đủ thứ (vật chất lẫn tinh thần, chết và sống, hữu hình và vô hình…). Một người trưởng thành thì ngay tự do nó cũng chẳng cần lấy.

l

Cái này là cái này, cái kia là cái kia … đâu cần tác quán, vì tác quán là kết nối một kiểu khác của tương quan nhân quả. Bạn có đủ sức để siêu quá chúng? Bởi bạn thực sự “viên mãn” …

l

Không có “biết” cũng chẳng có “không biết”, hiểu hay không hiểu …, là chỗ phương tiện chỉ bày một cái gì khác hơn là những “khái niệm”.

l

Tôi thực sự không biết gì cả, nên tôi tiếp tục viết như thế này như thế khác. Nếu tôi biết thì tôi đã “im lặng” rồi ! Người ta bảo hay các Thánh đều bảo im lặng là đỉnh cao của trí tuệ, tôi vô trí vô đắc về ngôn từ lẫn ý niệm và làm sao hay không làm sao …!

l

Các Thầy bảo “ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt”, còn tôi thì thấy cái gì cũng là ngôn ngữ biểu tượng, im lặng cũng là ngôn ngữ “vô ngôn chi ngôn”, cục đá, con kiến … đều biểu hiện ngôn tính mình ! Bạn khôn xảo nghe ngôn ngữ đạo đoạn bèn hết lời nói, sách vở … chỉ ăn cơm uống nước đi ỉa đi đái, nhưng chúng có biết ăn cơm uống nước đi ỉa đi đái là gì không ? Chúng sẽ bảo thì “như vậy” đó ! Còn tôi như con nít lúc nào cũng nói “lại là cái gì ?” ! Đi chăng ? Ngồi chăng ?…??? Tôi cảm thấy mình “cao siêu, vĩ đại” hơn cả Thượng đế là cái mà loài người chỉ biết thờ lạy mà chẳng biết nó là cái gì cả, còn tôi có quyền chấp nhận nó (TĐ…) hay phủ nhận nó. Không ai nhảy qua đầu mình được, trừ khi là mình ! Đó là cốt tủy của Tụng Ca Bản Ngã !

l

Ý nghĩ, cảm xúc, nỗ lực … không của ai cả. Chỉ vì bạn cho rằng “tôi” nghĩ tôi buồn tôi làm này làm nọ nên mới rắc rối với khổ sướng phức tạp. Bạn bảo rằng nếu không phải tôi thì tại sao lại xảy đến cho tôi mà không xảy đến cho người nào đó ? Bởi bạn không hiểu thấu “duyên khởi vô ngã” nên bạn mới thắc mắc như thế, rồi bạn quan niệm hoặc chấp nhận quan niệm của triết gia hay đạo sĩ rằng có ông “Trời” hoặc có một năng lực kinh khiếp khó biết đã “áp đặt” cho bạn nhưng khôn khéo chừa cho bạn một “ý chí tự do” để thức tỉnh bạn rằng bạn phải “theo” nó để nó phù trợ gia trì cho bạn như ý bạn muốn v.v… vô số phức tạp bắt đầu cho bạn và cả thế giới này thế giới khác, cứ như thế tiếp tục dòng vô minh bất mãn … Bạn nên quán sát một cách vô tâm xem bạn là cái gì ? Bạn chỉ là một yếu tố, một điều kiện, một nhân duyên như hết thảy vạn pháp, phải không ạ ? Và bạn hỏi ai tạo nó ra ? Nếu vậy bạn chưa thấu “duyên khởi không tính”. Chân lý này không có gì như bạn tưởng tượng, nó là chính bạn nên bạn chỉ cần “trực ngộ”, chẳng làm gì khác nữa.

l

Không tu hành qua khái niệm của người chỉ bày, mà chỉ xem là gợi ý chớ không để bị ám thị. Phải có cách khác tùy “căn địa” của mỗi người dù là cùng một phương pháp.

l

Hết thảy như ý mình, thân tâm và hoàn cảnh thế giới đều là chính mình muốn vậy. Như không ai bắt mình giận, không ai biểu mình mừng … mà mình vẫn giận, mừng … khi có việc xảy tới (mình là cái xảy tới!) nên cái quả đồng thời tương hệ cũng xảy tới. Chủ khách đồng thời, tâm cảnh nhất như, mọi sự sự đều như nó là ! Đi đứng, nói năng, ràng buộc, giải thoát, có tâm có vật, không tâm không vật … đều là “nó” cả, tức là chính nó vậy chứ không phải “nó” là cái gì khác (làm nên) với cái nó là, như vậy ! Cơ cấu (không tính duyên khởi) của vạn vật không độc lập mà cũng chẳng tương quan gì cả. Chỉ là sự “chỉ bày” cái chẳng phải sự chỉ bày muốn chỉ bày. Ngay cả Tính Duyên Khởi cũng là chỉ bày, không có cái gì có thể “nắm lấy bỏ lấy” được. Vì không có tiêu chuẩn nào cả nên mới thiết lập mọi tiêu chuẩn, vô lượng, vô tận … Cũng như nói “ngôn ngữ Đạo đoạn” thì cũng chỉ là gợi ý, Đạo không có giới hạn, mà cũng chẳng vô hạn, ngôn ngữ cũng như vậy. Hết thảy pháp là một pháp, khám phá một pháp “bốn lai không” thì vạn pháp cũng như thế. Nhưng bổn lai không là gì thì lại chẳng nằm trên lời nói.

l

Nếu không phải Thích Ca thành Đạo thì chẳng đúng, mà nói Thích Ca thành Đạo thì cũng chẳng đúng. Ngã và vô ngã cũng như vậy. Có người thành Phật thì hết thảy thành Phật. Sao lại có người chẳng thành Phật. Còn một người chẳng thành Phật thì không có ai thành Phật được. Tất cả các pháp tướng cần phải thấu qua thì Đạo không có gì là phải hay chẳng phải ! Giả danh mà không là Trung đạo thì giả danh chỉ là một trò chơi chữ. Nhơn duyên sinh mà không phải là Tính không thì chỉ là nhơn duyên của một khía cạnh. Tuy tất cả các pháp là không thực tính nên như thế cũng được không như thế cũng được, vừa như thế vừa không như thế cũng được, chẳng như thế cũng chẳng không như thế cũng được mà chẳng phải hỗn độn, sao cũng ba phải cả thì Trật Tự Duyên Khởi chưa hiện. Vì không tính nên không sinh không diệt không uế không tịnh, vì không tính mà hay tùy duyên nên các pháp bất nhị. Hết thảy tâm pháp nhất như, vì trí vô đắc, vô trí huệ vô sinh vậy. Hết thảy duyên khởi nên duyên khởi là vô thủy vô chung và các pháp tịch diệt trong từng nhất thời của mỗi mỗi mọi mọi như lai như thế, không ở bờ này cũng chẳng đến bờ kia, tự sinh tha sinh cũng lại như vậy, vì chưa từng sinh chưa từng diệt.

l

Tâm sinh pháp vì ngoài tâm không có pháp. Pháp lại sinh tâm nên tâm không có thực thể. Để khai thị tâm pháp nhất như tùy duyên vô sở trụ. Do đó tránh lỗi chấp tâm chấp pháp chấp cái đầu tiên cái cuối cùng, phương tiện cùng cứu cánh, chấp vào cái thực hay phi thực. Từ đó mới nhận tính pháp giới duyên khởi không tính, viên dung vô ngại, tự tại viên mãn, không thể nắm lấy vì không có chủ, không có chỗ bỏ đi vì không có khách.

l

Tùy Duyên giải thoát, dù một chút sư tử cũng hơn một triệu lũ lừa. Biện chứng duyên khởi, Tánh không dù tầm thường nhất chớ chưa nói đến siêu việt, cũng dư giúp cho chúng sinh giải thoát, vì sự thực, chân lý, Đạo pháp là vậy. Mỗi tiếng hét, mỗi tiếng cười, mỗi đóa hoa, mỗi tâm niệm … đều biểu hiện Tánh không, Như thị (Như Lai).

l

Không có cái “tôi” nào để lấy để bỏ. Vì ngay cả lấy bỏ cũng chẳng được. Vì hết thảy mọi sự mọi vật mọi tâm mọi cảnh đều tự do tự tại vô thủy vô chung. Bạn đầy đủ, như ý, vẽ rồng vẽ rắn tùy duyên. Những gì tôi muốn nói là tôi thấy mình thấy mọi mọi đều tự tại tự như, dù bất cứ cái chi cũng chẳng thể bôi lem nô dịch bạn. Chỉ là bạn có ảo tưởng về “mình” đủ thứ cho vui vậy, bạn ý thức triệt để và toàn diện điều đó để bạn không còn phải làm sao ra sao vì sao … nữa. Bạn có an hay bất an cũng vậy, bạn bất tỉnh hay luôn luôn thức tỉnh cũng vậy, vì “Pháp” rộng lớn không ngằn mé, không ngằn mé cũng bất khả đắc.

l

Khi quá hiện vị lai là một “điểm” thì cái “điểm” này trụ ở chỗ nào ? Chắc chắn chẳng phải ở “hiện tại”! Cũng chẳng có chỗ nào để trụ, ngay cả chỗ phi tam thế.

l

Nếu không có ngã thì ai thành Phật, và không có ngã mà thành Phật thì một khi có “sự thành Phật” thì hết thảy là Phật sao có cái sẽ thành ? Nói ngã đó tức vô ngã, chẳng phải đại ngã hay siêu ngã … mà là không thực sanh không thực diệt không thực tịnh, uế, giác, liễu, tri, chứng … chi cả. Nên nói không có ai thành Phật vì hết thảy đã là Phật (Pháp) rồi ! Tùy duyên yêu ghét, … Tùy duyên thích thản, chân không diệu viên … Nơi Biển Nhất chân pháp giới đầy đủ cái chưa sinh cái sẽ sinh cái đang sinh mà vẫn vô lượng vô tác viên mãn chẳng thiếu dư mà nói vô lượng kiếp đã là một chúng sinh như thế như thế và vô lượng vị lai là vị Phật như thế như thế mà không bị lỗi “định mệnh thuyết”, tất nhiên, quyết định, cố cùng … Nó vượt ngoài mọi tâm thức chứ không loại trừ thủ trước một tâm thức nao. Nó “xảy ra” như “xảy ra” Nó ! Không có cái vô minh vô thủy phải chuyển, bỏ cũng không có cái bản giác vô chung để đắc, thất. Như biển hoa hải tạng trùng trùng lớp lớp chẳng cao chẳng thấp chẳng trước sau duyên khởi không tánh sống động vô tận vô tâm tịch nhiên tịch diệt trong từng mỗi mỗi mọi mọi thân khẩu ý trong mọi mọi mỗi mỗi pháp giới tạng thân hàm dung xuyên suốt tam thế thập phươn vì không chỗ trụ cũng chẳng không chỗ trụ mỗi cử chỉ là cử chỉ của pháp giới tính gồm đủ cả danh sắc, phi danh sắc, phi phi danh sắc …

l

Vì sao bạn không thích chính trị ? Vì sao bạn thích kinh tế, triết học ? Vì sao bạn thích Đạo lý, nghệ thuật ? v.v… ? Cái mà bạn ghét hay thương, thích hay không thích, biết hay không biết … đều do bạn kẹt ở trong đó, bạn có cha mẹ, con cái … với cái “có” rồi, bạn đã lừa phỉnh chính bạn rồi bạn lại chống lại bạn hay tự tôn bạn … Bạn có biết trời cao cúi hỏi đất thấp để làm gì không ? Bạn có biết cánh sen rớt xuống thành gì không ? Và hạt nhân hay chủng tử là gì không ? Khi nói bạn phải là người hạnh phúc và làm cho người khác hạnh phúc, nhưng bạn không là người như thế, thì chắc là bạn có chỗ khác của bạn rồi, dù bạn là người phiền phức, mỗi người có cái chung cho toàn thể và cái riêng cho chính mình không ai rờ tới được, bạn không bao giờ là người bỏ đi, mà bỏ đi đâu, vì nơi nào lúc nào chẳng phải là Pháp giới tính liên hoa tạng …

l

Chúng ta có thể có nền văn minh khác hơn hiện có, nếu có văn hóa khác với văn hóa (tư tưởng triết học …) chúng ta sẽ không có nhiều vấn đề như hiện nay. Nhưng vì pháp giới tính như vậy, nên không ngại có tư duy, hành động, cùng lý luận như bây giờ.

l

Khi nói biển nước là nói tâm vô điều kiện, còn nói sóng là nói tâm bị điều kiện hóa nên trùng trùng sóng sinh diệt bất tận. Hai tâm chỉ là bất nhị, nên mỗi mỗi đều là chân như pháp tính chẳng thêm chẳng bớt, chẳng đến chẳng đi … vì vô tận tạng, hư không tạng, vô lượng tạng … vậy.

l

  • Thế nào là tính chân như của vạn pháp ?
  • Vạn pháp !

l

  • Thế nào là giải thoát rốt ráo ?
  • Người chứng ngộ vạn pháp (tâm cảnh nhất

như duyên khởi) bất khả đức, vô sở trụ tức “thấy” sự thực là vậy. Đạo lý duyên khởi không tính mở ra vô tận tri kiến giải thoát, tầng tầng lớp lớp trùng trùng điệp điệp không gì chẳng thấu thoát. Như vấn đề sinh tử phiền não, trí tuệ niết bàn, bình đẳng sai biệt, thần thông phép tắc, ba đời mười phương, chân vọng không bờ bến … Hết thảy đều vô đắc, vô sanh … Hết thảy đều là giả danh chẳng thể thi thiết nói năng luận bàn, vì chẳng phải có, không, chẳng phải vừa có vừa không, chẳng phải không có chẳng phải không không … mà tùy duyên nói có, không, sau, trước, trên, dưới, sinh tử cho đến niết bàn, chúng sinh cho đến Phật quả … không chi chẳng thi thiết nói năng luận bàn, vì hết thảy pháp đều vô sở đắc cho nên người cũng vô sở đắc tự tại vô ngại đối với hết thảy các pháp nói một chữ suốt kiếp cũng không hết, nói một chữ mà đầy đủ Phật pháp.

l

Nếu bạn thấu hiểu vô thường hay vô ngã thì bạn khỏi phải làm gì nữa trong tất cả mọi sự từ trong tâm lẫn ngoài vạn sự vạn vật. Sự sự tự thanh tịnh, chẳng làm sao để thanh tịnh, bản nhiên. Tất cả vấn đề là bạn nhận ra những gì bạn cho là bạn bị phiền não vô minh dính mắc là ảo tưởng, ảo giác. Những thứ đó không có ở đâu cả (pháp trần), nó chỉ là những hình ảnh không thực mà bạn muốn lấy bo rồi bạn nỗ lực làm phàm làm thánh đó thôi.

l

Đạo không thể học, vì không có gì để học, ngay người đi tìm Đạo cũng không thì lấy gì để học ? Hết thảy sinh tử niết bàn, chơn vọng, mê ngộ, thần thông phép tắc, ngũ nhãn lục căn, vô lượng cảnh giới môn, … v.v… đều Như Nhau. Vì sao vậy ? Vì “không” vậy ? Sao gọi là “không” ? Vì Duyên khởi vô sanh vậy ? Sao gọi là Duyên khởi và vì sao có nó ? Vì nó là một pháp vô sanh, nhất thời có sanh là duyên khởi, duyên khởi cũng là pháp. Pháp pháp duyên khởi như huyễn gọi là “không”, chẳng dư chẳng thiếu, chẳng đến chẳng đi … tùy duyên đầy đủ, vô sở đắc. Tùy duyên mà có pháp duyên khởi, có pháp duy thức, có pháp trung quán, có pháp viên giác, có pháp Tứ đế .v… đều là vô sở đắc, mà vô sở đắc cũng vô sở đắc nữa thì còn có cái gì gọi là Đạo, phi Đạo …? Tuy không có cái gì mà chẳng thiếu, tuy có cái gì mà chẳng thừa, sao lại có pháp lấy bỏ, lấy bỏ cũng “không” nên duyên khởi mà dường có lấy bỏ, sóng nước không tự tính, không tha tính, chỉ tùy duyên mà gọi sóng, nước … Chưa từng lìa tứ cú mà tự tại nơi tứ cú, chưa từng sinh tử mà tự tại nơi sinh tử … Nhân quả ba đời đều tự tại xuất sinh nơi một niệm vì vô ngã vô nhơn vô chúng sinh vô thọ giả vậy.

l

Nếu ngộ duy thức tánh

Cực lạc không đường về

Vạn pháp tự tâm sanh

Như hoa sen nghìn cánh.

 

Không ngộ duy thức tánh

Thấy có đi có về

Như trăng chìm đáy nước

Muốn đến càng sanh mê.

l

Tánh duy thức tức tự tâm không tính tùy duyên chẳng gì chẳng có chẳng gì chẳng không, có không bất nhị, siêu quá mọi tri kiến thế gian, xuất thế gian mà không phá tướng hay chấp tướng vô vi hữu vi … Bởi Tâm đó không méo tròn, chơn vọng, đoạn thường, sinh diệt .. Hết thảy là Đạo chẳng khứ lai, động tịnh … Như Biển nước vô tận chưa từng có sóng hay không sóng, bởi chỉ là một “Hữu Thể” sống động linh hoạt bất khả đắc vô chung vô thủy cũng chẳng phải cái “giờ đây” hay phi thời, bởi nơi “không tính”, “pháp tính”, “Phật tính” không tất cả tướng mà cũng tức là tất cả pháp, ngay cái “tức” này cũng chỉ là giả danh thị hiện cái “Như Tính” mà thôi ! Tâm pháp luôn luôn là cái “xảy ra” mà chưa từng xảy ra bao giờ !

l

Phật pháp nhiệm màu vô lượng, nếu bạn chỉ thấu triệt toàn diện vạn pháp (tâm cảnh) vô thường, vô ngã bạn cũng giải thoát, tức bạn thấy Tánh Không Duyên Khởi “vận hành”, “sống động” mà tất cả mọi mọi mỗi mỗi cảnh giới dung thông vô ngại không thể nghĩ bàn mà không chi bạn chẳng “biết”.

l

Tất cả chúng sinh đều được giải thoát, không cần đợi giải thoát phiền não vô minh mới giải thoát ! Cần khám phá chỗ này !

l

Các pháp khởi lên và diệt tận, hết thảy xưa nay (bổn lai) như vậy, phàm thánh vốn không tùy duyên mà hiện thánh phàm. Một bát cơm như nhau không có tự tính, tùy theo kiến giải mà ăn bát cơm sai khác. Bình đẳng không, sai biệt không, chủ khách không … Đao Phật chỉ là một chữ “không” “Duyên Khởi” này phá dẹp mọi nghi lầm của tà ma ngoại đạo đi trong …………………… chẳng nơi nào chẳng tự tại dung thông vô ngại, Có khi nói hết thảy toàn là “Dụng” có khi nói hết thảy toàn là “Thể”, có khi nói toàn là “Tướng”, làm người ngu ngơ ngác chẳng biết đâu mà nắm bắt ! Người trí thấy vậy cười lớn như vua cười bọn người mù sờ voi. Ngay chỗ chẳng sao nắm bắt được buông bỏ mọi hy cầu, mới biết hết thảy là duy tâm, duy thức, không tính sinh không tính vô sinh không tính diệt không tính vô diệt không tính thường không tính vô thường không tính đoạn không tính vô đoạn không tính khứ không tính vô khứ không tính lai không tính vô lai … không tính … không tính … các pháp Thanh Tịnh Bản Nhiên như vậy, thể dụng tánh tướng như vậy, không trước sau, không cao thấp, không động tịnh, … tùy duyên vô ngại, không một pháp có thể được mà hay hiện muôn pháp, muôn pháp cũng vô sở đắc không chỗ khởi không chỗ diệt …

l

Nơi và Thời

Tâm thức tập thể cộng thông

Những chiều kích

Duyên khởi không tính

Tự tâm vô trụ

Những yếu tố để giải thích tất cả hiện tượn sai biệt, thần biến của thân tâm và cảnh giới … Duyên khởi như mũi khoan kim cương xoi thủng hết thảy tà pháp chính pháp, hữu pháp vô pháp … Tánh không lộ toàn chân, sâu không đáy, cao không đỉnh, rộng không ngằn mé, hữu hạn vô cùng đều bất khả đắc, bất khả đắc không !

l

Tất cả các pháp tướng hiện khởi đều do tâm bị điều kiện hóa mà thành, chúng có tính như huyễn, do đó chẳng cần quán chiếu, tri giải về chúng, vì làm như vậy tức cũng là tâm bị điều kiện hóa rồi. Tâm cảm thấy phiền não (khổ rộng lớn trùm khắp tam giới) đi tìm phương pháp, tạo tác phương tiện thoát khổ cũng là Tâm, đến khi giải thoát khỏi chúng chứng ngộ niết bàn cũng là Tâm, Tâm không tính như vậy nên chẳng ngại điều kiện hay vô điều kiện mà rốt ráo thanh tịnh bản nhiên, chẳng phải huyễn chẳng phải phi huyễn.

l

Pháp giới tính thân sống động vô thủy vô chung tùy duyên huyễn hóa từ hồi nào đến giờ vẫn như vậy, chẳng thế này thế khác mà không chi chẳng đủ, mỗi mỗi an trụ trong mọi mọi, mọi mọi an trụ trong mỗi mỗi, tầng tầng lớp lớp xoáy vòng không chen lẫn nhau nương nhau mà khởi hiện tính mình nên chẳng nói sanh chẳng nói vô sanh, chẳng nói khởi chẳng nói vô khởi, … “Hữu Thể”, “Đạo”, “Pháp” … chỉ Một Lần Xảy Ra Như Xảy Ra Một Lần Viên Mãn.

l

Một người nói : Tôi bị sức dục lôi cuốn phải làm sao ?

  • Làm sao cũng như vậy, nó như vậy, xem

kỹ nó là cái gì !

Một người nói : Cái thân này là bịnh, vì sao lại mang bịnh khác ? – Sao gọi là thân ? Sao gọi là bịnh? Thân vốn không thân thì sinh lão bịnh tử cũng như vậy, do duyên như vậy, tìm duyên chẳng thể được, thì thân và bịnh chỉ là ảo giác, ảo tưởng từ cảm thọ sanh, mà cảm thọ sanh cũng chẳng phải không có nhân duyên, mà có nhân duyên tức là không vậy. Vì chẳng phá chẳng chấp tướng mà gọi là giả danh, cũng không chấp, phi giả danh (khái niệm, tâm niệm, quan niệm…) nên gọi Trung Đạo, cũng có nghĩa là siêu việt hết thảy tri kiến (thế gian, xuất thế gian, Phật pháp) nên gọi là tri kiến giải thoát !

l

Bởi chạy theo duyên mà chẳng biết nên các

pháp biến diệt hóa sinh vô vàn, tưởng là kỳ diệu, lạ lùng, thần bí … Đó là vì vọng tướng ngã nhơn … mà sanh ra như vậy. Thực sự có cái gì !

l

Tâm bị điều kiện hóa (năng tri, sở tri) như thế

nào thì pháp cũng theo đó mà huyễn hiện. Biết huyễn hiện là không, tâm vô điều kiện được trực nhận, tùy thuận các duyên vô quái ngại, chẳng phải hai.

l

Nếu bạn có ý niệm nào thì ý niệm đó sẽ thành

tựu. chẳng hạn bạn là Thượng đế sáng tạo nên vũ trụ thì bạn sẽ được thành tựu. Những gì bạn không thể tưởng tượng sẽ lần lượt được tưởng tượng và thành tựu. Hiện giờ bạn có thể tưởng tượng bạn là gì không ạ ? Tôi không thể tưởng tượng nổi tôi là gì cả ! Vậy rồi tôi tưởng tượng tôi đủ loại, vô số, bất tận.

l

Khi bảo rằng tất cả là Như Huyễn, đừng cho là ảo mộng hay trò huyễn thuật củ “Đấng Nguyên Lý” nào đó, vì Như Huyễn chính là Duyên Khởi Tánh Không, chân không diệu hữu, vô sở đắc, Trật Tự vô ngã của vạn pháp. Do đó ai chứng (giả dụ) được Pháp giới tính này thì gọi là Ba Thân mãn túc cũng gọi là Nhất chơn pháp giới …

l

Nhớ chết, them chết, khát chết, yêu chết, ghét chết, buồn chết, vui chết, ăn chết, ngủ chết, làm chết, chơi chết, ngồi chết, nằm chết, đi chết, đứng chết, sống chết, già chết, bệnh chết, chết chết, ràng buộc chết, giải thoát chết, Tàn ư chết, Từ an chết, chó chết, trời chết, đất chết, Phật chết, ma chết, là gì chết, không là gì chết v.v… chết … “Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn …”…

 

Duyên khởi, Tánh không, Chân như, Bổn giác, “cái đó” …cùng tất cả các pháp có phải là đối tượng để ông quán sát ? Nếu vậy kẻ quán sát là ai ? Có phải là bị điều kiện hóa, khái niệm hóa mà thành bản thế, hiện tượng, chủ, khách …?

l

Pháp giới tính chỉ “xảy ra” có một lần, vô thủy vô chung, nên không có sinh ra tạo vật như quan niệm về Thượng đế sáng tạo ra tạo vật. Nó “viên mãn” như vậy, không gì chẳng đủ, “không có ai” lìa xa nó trong một sát na. Nhưng nó cũng gồm cả vọng lượng, vô minh nên mọi hình tướng phát hiện, tuy vậy chẳng phải chẳng là pháp giới tính ! Mọi phương pháp “Tôi về”, “Trực ngộ” … chính nó đều là huyễn sự, biết huyễn sự là vô sợ thì thôi vậy.

l

Đạo Phật là đạo vô ngã sao ông dám tụng ca bản ngã ? Tôi tụng ca bản ngã không thực tính, như huyễn tính … Không thực tính sinh, không thực tính diệt không thực tính vô sinh không thực tính vô diệt … v.v… Nó siêu quá ngã và vô ngã, siêu ngã, đại ngã, thần ngã … Đó cũng là tính vô sở đắc của các pháp. Niết bàn chính là vô sở đắc, nhưng nếu chấp thủ niết bàn, chấp thủ vô sở đắc thì nó cũng như huyễn tính, không tính, … mà thôi.

l

Nói tóm, Như Huyễn Tính là tính chân như của vạn pháp (thân tâm và thế giới), sinh tử như huyễn, niết bàn như huyễn, như huyễn cũng như huyễn thì ngộ cái gì ! Nếu ông ngộ cái gì và cái gì ngộ thì đó là cái biết vụn vặt của ông, của tâm trí ý thức manh mún phân chia mọi sự ra thành khác biệt, như trời cao đất thấp … Nhưng mà hết thảy vô minh nhiều cấp độ cũng như huyễn nữa thì làm sao lấy, bỏ. Và khi tâm (tạm gọi) không còn chủ khách thì đâu chẳng phải là chân như pháp tính duyên khởi như huyễn, khắp tam giới không có chỗ cắm dùi, mà dùi không có chỗ cắm thì dùng dùi làm gì ! Khi bạn là Như Tính thì bạn còn có thấy bạn, có thấy Như tính, phi huyễn hay huyễn nữa chăng ? Hay hết thảy tự tại, rõ ràng (trật tự duyên khởi). Bạn đừng cố chấp giả danh mà hỏi cái gì tự tại, rõ ràng … nhé.

l

Sự lập lại các chơn ngôn, ấn quyết cùng tâm ý làm cho bộ não sắp xếp lại sự vận hành thuận theo pháp giới tính không duyên khởi đưa hành giả vào sự an vui giải thoát, tình thương và hiểu biết sâu rộng về các pháp tướng.

l

Trước dạy người tin Tam Bảo, nhân quả ba đời, và mình có khả năng thành Phật (giác ngộ Pháp giới tính). Sau nói rộng các pháp tướng rồi quy về Pháp tính (siêu quá nhân quả, thời gian không gian, các điều kiện và vô điều kiện). Cuối cùng tọa thiền (khám tâm) làm Phật !

l

Phiền não, khoái lạc hay cái diệu lạc, thanh thoát … đều có chỗ của nó, vì hết thảy là “Tùy Duyên”, “Không tính”, nên thấy Thực tướng của nó là vậy, thì vô sự (không dong ruổi trong nhị biên).

l

Từ bỏ thế gian (điều kiện nhân duyên) tức là xuất thế gian mà tự tại vô ngại và các pháp hữu vi vô vi gọi là Phật pháp !

l

Đừng nhìn sự vật sự việc có chính, phụ … Nên không có trung tâm, không biên giới trong cách thấy nghe hay biết của bạn.

l

Cái hữu hạn nào cũng một lần trùng lập, như tôi chính là bạn, bạn chính là tôi trong vô lượng vô biên kiếp sống. vì cái hữu hạn sẽ đúng trong vô hạn, vô thủy vô chung. Nên tôi có thể mô tả bạn từ quá khứ đến vị lai bất tận mà không sai sót. Đó cũng là lý Duyên khởi xuyên suốt và hàm dung vạn sự.

l

Phàm có điều kiện để phát sinh thì cũng có điều kiện để hoại diệt. Nên gọi là hữu vi. Nếu không có điều kiện làm phát sinh thì không có điều kiện để hoại diệt. Đó là vô vi. Ý thức các pháp hữu vi và vô vi như thế gọi là Phật pháp. Phật pháp là Pháp như thực tướng của nó là như vậy, người chứng pháp thực tướng như vậy gọi là Phật, giải thoát khỏi hữu vô mà tự do ở nơi hữu vô, cho nên gọi là bậc vô tác, vô sự, không còn gì để nói, nghĩ, làm mà không chi chẳng nói nghĩ làm có người vậy (chúng sinh niết bàn).

l

Ngộ, tức là mình là thế ấy rồi, không có ngộ cái gì và cái gì ngộ cả. Chỉ ngộ rồi thì mới biết. Như niết bàn là gì thì không thể nói nó là gì, chỉ là con đường đi đến Niết bàn có thể khai thị, nhưng đến độ tột cùng thì chẳng có con đường nào cả, vì hết thảy là niết bàn, ngay cả “con đường đến Niết bàn”.

l

Nếu các pháp là duyên khởi như huyễn thì không còn thấy có như huyễn, duyên khởi, không tính nữa, cũng chẳng thấy có cái phi huyễn, …

l

Ngậm miệng lại mà rống to lên cho các ông nghe rằng xưa nay chưa từng đổi ! Các ông làm này làm nọ, không làm này làm kia mà các ông đâu thấy được chỗ như lai vô tác, hết thảy đều nhất như dù có thánh phàm mê ngộ thì đó cũng chỉ là cái như thị của vạn pháp thường trụ. Ngày nay các ông phân biệt sự này lý nọ thì cái mê thành hạn hẹp bởi sáu căn đối với sáu trần của các ông mà cho có thiên đường địa ngục, sinh tử niết bàn, bồ đề vô minh cùng các thứ sai biệt vô lượng lao nhọc tâm mê vọng của các ông. Nếu các ông biết được chỗ bản giác giải thoát tự tại thì các ông dù ở trong mê vẫn sáng, còn làm gì thì chỉ là ngụy cầu mà thôi. Đạo pháp đâu phải do ông mà được, cũng không lìa ông mà có. Ông chẳng thấy hằng ngày pháp thân báo hóa đang đùa vui với bóng ảnh của chính mình sao !? “Sự sống” là cái Biết vô thủy vô chung nó vốn luôn luôn là vô ngại vô nhiễm, bởi không biết (ngộ) điều đó nên lấy cái tâm hạn lượng mà vẫy vùng với động, tịnh, sạch, dơ, không, có … Nếu ông không phiền não vì cái thấy biết điên đảo hư vọng của mình thì chư Phật chẳng cần nhọc lòng chi cho mệt, đằng này vì ông rên rỉ với những vô thường vô ngã khổ do ông ngu si tạo tác mà cầu này cầu nọ nên chư Phật vì ông khai thị cái Như Tính, ông lại đem nó như một trường lớp học hành lê thê lộn xộn mà thể nghiệm thực chứng bỏ lấy không cùng. Không một pháp để ông nắm bắt, kiến giải, giác ngộ … Cái ngộ thì luôn luôn là ngộ rồi ông còn tìm kiếm cái ngộ nào !? Sự sống vô tận vô trước làm sao ông có thể thấy biết để lập thành cái mê cùng ngộ mà phá này dựng nọ ? Khi ông khởi niệm thì niệm chỉ là niệm thôi, chẳng phải thanh cao hạ liệt thánh phàm chơn vọng chi cả ngoại trừ ông gắn kết cài đặt danh tướng cho nó. Chính ảo giác của danh tướng mà thành vọng tưởng nên làm hay không nên làm cùng các thứ chủ thuyết lai rai. Niệm tức giác, chẳng phải giác là chủ của niệm, vì sự thực không có ta, người, chủ khách … Sự sống viên mãn viên dung như vậy ông tạo tác chỉ là đập sóng làm cho hết sóng thì chỉ là trò khổ não như tìm trăng đáy nước mà thôi. Khi ông nhận thực điều ấy, tức niệm chỉ là niệm thì không có niệm phàm thánh để làm hay không làm theo thì sự sống này huyễn hiện sức lực bất khả tư nghì giải thoát của nó ông làm sao luận nghị vọng hành ? Ông chẳng làm gì với cái mà ông cho là vọng hoặc cả. Nó vốn là chơn như sóng là nước, ông thử nếm vị giải thoát đó rồi mới biết điều chư Phật ba đời mở chỉ bày cứu cánh rốt ráo chứ chẳng phải lời ru cho trẻ khóc !

l

Cái “vô thủy” thì không đầu cuối cũng là cái “vô chung”. Vậy thì ngay cái sát na sinh diệt này đâu ngoài cái vô chung vô thủy tự tại vô ngại viên mãn bất tức bất ly ! Chỉ thẳng chỗ cứu cánh ít người nhận hiểu. Phải có thứ lớp để người tín giải phụng hành thì người ta hoan hỷ. Cho nên có pháp ngộ, có pháp hành là vì tâm thức duyên sinh không tính vậy. Không chi chẳng phải Đạo dưới mắt Phật, không chi chẳng là Đời dưới mắt chúng sinh.

l

Sao gọi là độc cư ? Đó là vô y vô tác vậy. Hễ còn sở đắc thì vẫn còn là người thế tục.

l

Tâm điều kiện sinh ra các pháp, các pháp vô sinh nên thường vào Đạo là con đường vô điều kiện, mới gọi thõng tay vào chợ không tâm phàm thánh. Hễ còn tâm tự tác, tha tác, cộng tác … thì vẫn là vô thường vô ngã khổ không mà thôi. Cho nên ngay nơi Đạo mà không biết lại đi tìm bằng phương này chước nọ. Biết chừng nào xong ! Thường thường thì bạn ưa làm ngược lại hoặc bỏ cái này để lấy cái kia, nên chỉ toàn là đắp đổi, ứng phó, cải cách không chân. Nếu bạn biết rằng các pháp tự nó đầy đủ, vô ngại, trật tự, có cái độc lập tự do mà cũng là sự tương quan vô ngã … thì bạn còn làm gì. Chẳng hạn như nói “vắng bặt tư tưởng thì cái phi thời gian sẽ hiện”, điều này có nghĩa là gì ? Có phải là làm cho không tư tưởng hay hủy diệt ngưng dứt hoặc chạy theo tư tưởng là phải ư ? Không, chỉ là biết tư tưởng, không tư tưởng, vừa tư tưởng vừa không tư tưởng, chẳng phải tư tưởng chẳng phải không tư tưởng … đều là có chỗ của nó, chỉ bạn lộn xộn nên thế giới mới điên đảo, khi ra khi vào đấy thôi. Cái này là cái này, cái kia là cái kia, cái này sinh nên cái kia sinh, cái này diệt nên cái kia diệt … Rõ ràng minh bạch, bạn còn làm gì với sự mê si của bạn ?

l

Giới sinh định sinh tuệ sinh, Định sinh giới sinh tuệ sinh, Tuệ sinh định sinh giới sinh ! Toàn bộ cấu trúc tâm trí ý thức chỉ được khám phá (thế gian, vũ trụ) khi có cái vô tâm sáng suốt thanh tịnh như thế, gọi là giác ngộ chân lý. Rồi bạn thấy ra hết thảy phiền não, vô minh, tư tưởng, chấp thủ, hư vô … cũng thanh tịnh như những pháp vô vi xuất thế gian, cho đến Niết Bàn vô trụ trong Phật pháp.

l

Cái không phải phàm thánh nên nói thành phàm thánh, cái không phải đất nước lửa gió không thức nên mới gọi là đất, nước, lửa, gió, không, thức … ! Do đó nói tâm không, thân không, thế giới không, chứ chẳng phải không có gì ! Ngay cả lông rùa sừng thỏ cũng là duyên khởi không tính vậy. Đạo lý duyên khởi không tính bất sinh bất diệt (không đối thể, không thực thể, phi thể …) không gì chẳng đủ, tùy duyên vận dụng mà các pháp là hư không tạng, công đức lâm vô tận tạng…

l

Bạn không thể giải thoát cũng không thể ràng buộc. Vì tất cả tâm pháp vô sinh vô tướng vô tác vô trụ, không một pháp có thể được, cũng chẳng phải không một pháp có thể được (chân không tùy duyên). Bạn chỉ biết cái mê lầm của bạn một cách toàn diện triệt để thì còn cái chi chi nữa ? Mà dù còn cái chi chi nữa thì vẫn “như” mà thôi. Xưa nay chưa từng đổi, chẳng thêm chẳng bớt vì “không” “tướng” bất sinh vậy !

l

Làm thế nào mà một tâm niệm (danh) chấp thủ một sắc tướng (sắc) để thành tử sanh trong tam giới ? Không phải là có một tâm thức, một linh hồn độc lập nào cả mà chính vì ngũ uẩn của cha ẹ cùng với ngũ uẩn của con cái duyên khởi như toàn thể duyên khởi mà phát hiện một sinh mệnh. Như vậy ! Cho nên sinh mà vô sinh, vô sinh mà sinh, xưa nay chưa từng diệt cũng chẳng không sinh diệt vì cái Toàn thể sống động linh hoạt không tính vô sở đắc. Như vậy ! Nói cái xe, cọng cỏ, con kiến, loài người là nói cái toàn thể tương giao của nó, của cái không phải cái xe … chỉ là danh tự cái xe (quy ước) … cho nên vũ trụ chỉ là giả danh, là những sáng tạo của tâm thức không thực thể, và vạn pháp cũng không thực tính chi cả. Vì Duyên Khởi Tính Không nên không phải thường không phải đoạn cho tới không phải tự sinh, tha sinh, cộng sinh cho tới ba đời thập phương ngũ uẩn, thấp bát bất cộng … Tính Duyên Khởi phá hủy (sự sống, sức sống sáng tỏ làm cho sáng tỏ để được như là sáng tỏ) chính nó cũng không các pháp (danh sắc, vô danh vô sắc …) là “không” (không thực sinh, không thực tính, không thực hữu, không thực vô …). Nên nói tâm đó chẳng phải tâm, cảnh đó chẳng phải cảnh, chúng sinh đó chẳng phải chúng sinh, Như lai đó chẳng phải Như lai … vì Tính Không Duyên Khởi. Như vậy ! Không có nguyên lý phổ quát nào được thiết lập ở đây, vì hết thảy là giả danh, không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu … Bởi “vô hạn lượng”, vô hạn lượng cũng “không”, và …

l

Tôi là sinh lão bịnh tử, tôi cũng là siêu quá sinh lão bịnh tử.

l

Bạn phải tu tập học hỏi tất cả giáo pháp dù là thế gian, xuất thế gian cho đến Phật pháp để rồi bạn trực ngộ ra rằng xưa nay bạn chẳng lang thang tìm cầu ngôi nhà thực sự của bạn vì bạn luôn luôn an trụ nơi đó rồi mà chẳng hay chẳng biết. Bạn thấy rằng bạn chẳng sinh ra cũng chẳng chết đi đâu hết, chỉ là những hoạt dụng vô tâm của duyên sinh không tính bất nhị. Bạn thực sự tự tại vô ngại trước khi bạn “ngộ” ra.

Vì không hiểu thấu vô thường, vô ngã, khổ, không, niết bàn … nên tu. Vì không hiểu thấu Đạo lý Duyên khởi tính không nên tu. Vì thấy nghe hay biết sinh phân biệt hay không phân biệt nên tu. Vì trang nghiêm thân tâm và thế giới nên tu. Vì pháp thân tự tại vô ngại chẳng đến chẳng đi nên tu. Vì pháp giới vô tận vô lượng nên tu. Vì phi hữu phi vô nên tu. Vì pháp môn vô thượng nên tu. Vì hết thảy hạnh môn, nguyện môn, trí môn, sanh diệt môn, chơn như môn nên tu. Vì vô sở đắc nên tu. Vì nhất thiết trí nhất thiết chủng trí nên tu. Vì vạn pháp giai không nên tu. Vì hết thảy tánh tướng thể dụng thanh tịnh nên tu. Vì hết thảy chúng sinh thành Phật nên tu. Vì tất cả pháp như huyễn nên tu. Vì pháp giới bình đẳng, sai biệt nên tu. Vì pháp bất định nhưng rất chân xác nên tu. Vì hết thảy Phật pháp phương tiện cứu cánh sai biệt bình đẳng nên tu. Vì ngộ tự tâm không tính nên tất cả các pháp không tịch nên tu. Vì không ngộ tự tính phiền não là “không” nên tu. Vì thấy ngã và vô ngã là bất nhị nên tu. Vì vô thủy vô chung tùy duyên huyễn hiện các pháp trong phi thời nên tu. Vì tu nên không thấy có người tu và cái bị tu nên tu. Vì thi triển các pháp vô thường vô ngã khổ không niết bàn nên tu. Vì bồ tát tu hành bất khả đắc nên tu. Vì Tính không cũng không nên tu. Vì chưa từng mê ngộ nên tu. Vì du côn ba chìm bảy nổi cùng các bậc hiền thánh là khác mà chẳng khác nên tu. Vì sự sống (vô lượng thọ) với sức sống (vô lượng quang) là không hai nên tu. Vì cái này là cái này, cái kia là cái kia, cái này có nên cái kia có, cái này không nên cái kia không nên tu. Vì Phật pháp là “không pháp” mà chúng sinh nghe hiểu theo mê mà có sai biệt nhưng cái mê này cũng không thực vì do duyên mà khởi nên tu. Vì các pháp sai biệt và bình đẳng là tùy duyên nên tu. Vì Tùy duyên là không nên tu. Vì không là Tùy Duyên nên tu. Vì hết thảy tam muội đều tùy duyên chân như mà khởi nên tu. Vì vốn định nên mới có thể định loạn nên tu, vì sắc thanh hương vị xúc pháp không thực tính, không tự tính, không vô tính nên tu. Vì Như Huyễn là Huyễn Như nên tu. Vì Phật và chúng sinh là bất khả tư nghì nên tu. Vì tìm Tâm không thấy mà huyễn hiện các pháp là chơn nên tu. Vì chư Tổ chứng ngộ chân lý tùy nghi khi phát tâm Phật vô lượng vô tận nên tu. Vì tam tang kinh điển cũng là vô tự chân kinh nên tu. Vì vô tự chân kinh là đưa hết thảy chúng sinh vào vô dư niết bàn nên tu. Vì như trăng đáy nước mò tìm chẳng được nên tu. Vì vô thường vô ngã nên khởi bi tâm nên tu. Vì thập ba la mật đầy đủ nơi nhất tâm nên tu. Vì chơn vọng bất khả đắc nên tu. Vì hết thảy pháp giả danh nên tu. Vì thực tướng của các pháp là Tính Đạo nên tu. Vì hết thảy chúng sinh quyết định giải thoát nên tu. Vì hết thảy chúng sinh đang đi trên đường giải thoát như dạo chơi nhà mình mà chẳng biết nên tu. Vì hết thảy chúng sinh cầu tìm vô thượng chánh đẳng chánh giác nên tu. Vì tu là hành mà hành là Đạo (đi đường đi đường đi đi) Đạo thì chẳng đến chẳng đi vì vô tận vô lượng nên tu. Vì tam thừa là nhất thừa nên tu vô tu mà tu. Vì nhất thiết pháp không vô tập vô ngã, niết bàn nên vô tu tu. Vì vô tu nên tu. Vì thà ở địa ngục mà nghe chữ Phật còn hơn ở thiên đường mà không hay biết có Phật pháp nên tu. Vì tu nên tu. Vì chân không diệu hữu như là hai chân em bước như là em đi nên tu. Vì không thực sự có tôi – cái – của – tôi mà chỉ là những hiện tượng duyên khởi tương tục nên tu. Vì tâm không tính tùy tâm trí ý thức móc nối đùn đẩy nhau mà hiện khởi trong sát na nên tu. Vì sát na phi sát na nên tu. Vì ba đời chư Phật đều là chỗ y cứ “gương mẫu” nên tu. Vì tâm như huyễn cảnh như huyễn nên tu. Vì tất cả pháp Như nên tu. Vì cái – của – tôi là thân là tâm là cảnh giới là tâm trí ý thức … ngoài những cái – của – tôi mà nó chấp thủ thì không có cái tôi nào cả nên tu. Vì sự chấp thủ cũng như sự từ bỏ cũng là cái của tôi nữa nên tu. Vì chẳng có chúng sinh nào được cái gì cả mà có ảo tưởng rằng được nên tu ! Vì cái tôi không là gì cả nên tu. Vì phiền não bồ đề bất khả đắc vô sở trụ nên tu. Vì ở nơi vô sanh mà tưởng sanh, ở nơi vô thường mà tưởng thường, ở nơi sanh tưởng sanh, ở nơi thường mà tưởng thường … nên tu. Vì không tính nên hay hóa hiện (duyên khởi) muôn tượng nên muôn tượng là “không” nên tu ! Vì tìm nhân duyên quả tánh tướng thể lực tác bổn mục cứu cánh bất khả đắc nên tu. Vì vô sở đức không nên tu. Vì hướng vào trong cũng nó, hướng ngoại tìm cầu cũng nó, lên non xuống biển cũng nó, ra vào địa ngục thiên đường giải thoát ràng buộc phiền não niết bàn … cũng nó, … nên tu. Vì Đạo, Pháp vô sở đắc như “người” ở trong Hư Không mà tìm nắm Hư Không nên tu. Vì không có nguyên – lý – phổ – quát nào cả nên tu. Vì hết thảy pháp (tâm cảnh) là không mà Duyên Khởi không thể nhiễm sáu căn sáu trần sáu thức nên tu. Vì cái này là cái này cái kia là cái kia cái này có nên cái kia có cái này không nên cái kia không mỗi mỗi pháp đều như thế không bao giờ tăng giảm ngoài mọi tri kiến có không … chỉ là tùy duyên khai mở một cách vô trụ nên tu. Vì không có gì đáng buồn mà buồn, không có gì đáng vui mà vui, cái đáng buồn thì chẳng buồn cái đáng vui lại chẳng vui … nên tu. Vì không chấp thủ các pháp thế gian, xuất thế gian cho đến Phật pháp nên tu. Vì không chấp thủ tức là tùy duyên nói nín đúng thời đúng chỗ chớ không phải chai lỳ, lấy này bỏ nọ nên tu. Vì tất cả các pháp đều dung thông tự tại vô ngại không một mảy may dấu vết nên tu. Vì vừa sinh đã diệt rõ biết sinh diệt diệt rồi không còn trở lại trạng thái mê lầm thường đoạn nên tu. Vì tất cả các pháp là không thực sinh không thực diệt không thực có không thực không mà thường huyễn hiện sai biệt tùy tâm lượng của mỗi mỗi mọi mọi mà có vẻ như thực như hư nên tu. Vì thần thông diệu dụng vô cùng vô lượng biểu hiện theo nhiều bình diện, chiều kích khác nhau nên tu. Vì pháp tánh phi vô biên phi hữu biên phi phi vô biên hữu biên nên tu. Vì không giải thoát không ràng buộc, giải thoát không ràng buộc không nên tu. Vì pháp tính Như nên tu là giải thoát mà không tu cũng giải thoát nên tu. Vì Phật pháp một chữ cũng đầy đủ sinh tử niết bàn nên tu. Vì Phật pháp suốt ba a tăng kỳ cũng không nói hết nên tu. Vì Phật pháp hàm dung sự lý chẳng thiếu chẳng thừa chẳng xuất chẳng nhập chẳng phải làm chẳng phải không làm nên tu. Vì vô thủy cũng tức là vô chung đang hiện khởi tam thế ngay trong cái “bây giờ” viên mãn nên tu. Vì tu hành nơi Phật pháp tức là khám phá chân lý Tối Hậu Thường Trụ nên tu. Vì tu hành nơi thế gian, xuất thế gian pháp là phương tiện làm lợi ích hữu tình nên tu. Vì cái Tối Hậu cũng là những hoạt dụng của Đời Sống nên tu. Vì hết thảy là giả danh nên tu. Vì thấy Tính Không của Tham sân si mạn nghi tà mỗi mỗi sai biệt đều không ngoài Tính Duyên Khởi vô chủ khách nên tu. Vì pháp giới thuận nghịch trùng trùng vô ngại như vô lượng mạng lưới chẳng sinh chẳng diệt chẳng uế chẳng tịnh sống động linh hoạt ngoài nắm bắt ngoài chỉ bày vì hết thảy đang đã sẽ “mở khai” như thế nên tu. Vì tâm toàn giác cũng chính là tam thân tứ trí ngũ nhãn … như trăng đáy nước nên tu. Vì không có pháp nào cao hơn Niết Bàn Như Huyễn nên tu. Vì hết thảy chúng sinh thành Phật thì ta mới thành Phật nên tu. Vì hết thảy chúng sinh là Phật nên tu. Vì Phật chẳng phải chúng sinh nên tu. Vì Như lai tạng tính cũng là tất cả pháp mà tất cả pháp chẳng phải Như lai tạng tính nên tu. Vì chư Phật ba đời nói một pháp duy nhất mà chúng sinh nghe ra có nhiều nên tu. Vì hết thảy chỉ là Tự tâm không tính nên mọi hiện tướng cũng là không tính của tự tâm nên tu. Vì hết thảy đều cần thiết nhưng không có gì quan trọng nên tu. Vì mọi chấp thủ do mê lầm đều bất khả đắc nên tu. Vì có ngã nên tu. Vì vô ngã nên tu. Vì ngã vô ngã vô sở đắc nên tu. Vì hết thảy vạn vật đều tu nên tu. Vì Phật chẳng sinh chẳng tử chẳng phiền não niết bàn, vì trước tướng chấp tưởng mà có sinh tử … nên tu. Vì hết thảy Phật pháp vô sở đắc nên tu. Vì hết thảy các pháp là không nhưng không bỏ một pháp nào nên tu. Vì thực tướng của các pháp thanh tịnh bổn lai nên tu. Vì nhân quả ba đời chẳng mất nên tu. Vì Tam bảo tự tánh niết bàn nên tu. Vì phương tiện thiện xảo nên tu. Vì hết thảy các pháp bổn tính thanh tịnh là công đức bình đẳng của chư Phật và chúng sinh tùy tâm phân biệt mà thọ dụng sai khác nên tu. Vì phát bồ đề tâm là hy hữu nhất thế gian nên tu. Vì pháp bất khả tư, bất khả thuyết, bất khả hành nên tu. Vì đối với thế giới danh tướng, khái niệm, quan niệm không lấy bỏ, chỉ là tùy duyên nói nín, tùy duyên đi đứng nằm ngồi … không có việc khác nên tu. Vì ta không thể “thấu hiểu” cái mà ta là, chỉ khi đối tượng hóa thì chúng ta mới hiểu hay không hiểu (mê hay ngộ cũng là mặt trăng thứ hai) nên tu. Vì chân như không tính hay tùy duyên mà hiện tướng phàm thánh như mộng huyễn, bất khả đắc, vô sở trụ, cần thấu hiểu như vậy mà không thêm vào bớt ra chi cả nên tu. Vì tâm thì như nước mà thức thì như sóng, nước không bao giờ hết sóng, thấy được tánh của thức thì gọi là vô tâm, tâm và thức bất nhị nên tu. Vì như kẻ ngu kia không biết chuyện sinh tử xấu tốt cứ như “ma đưa lối quỷ dẫn đường” mà đi, còn bậc thánh sáng suốt thanh tịnh cũng chẳng biết xấu tốt nhưng chạm đâu phải đó chánh đại quang minh trùm khắp chẳng đến chẳng đi nên tu. Vì hết thảy thiên đường địa ngục sinh tử niết bàn … đều là “Tôi” cả nên tu. Vì cái Tôi chẳng phải là ngũ uẩn cũng chẳng lìa ngũ uẩn tức là cái Tôi siêu quá những phạm trù nhận thức tư duy để thị hiện Tính Không của ngã pháp nên tu. Vì chẳng phải một chẳng phải khác nói lên tính Tùy duyên của vạn sự vật vô sở trụ nên tu. Vì “nếu có pháp nào cao hơn Niết bàn ta cũng gọi là Như Huyễn”, và Như Huyễn là vô sở đắc, vô sở đắc không, Tính Duyên khởi, Tính Không … nên tu. Vì hết thảy là chơn cũng như hết thảy là vọng đều vô sở thủ nên tu. Vì Tâm không chứ chẳng phải không có Tâm, cảnh không chứ chẳng phải không có cảnh, mà “không” lại là Tính Như Huyễn của vạn pháp nên tu. Vì Tôi bất khả đắc bất sinh bất diệt nên tu. Nói tóm, cái Tôi là quan trọng nhất thế gian, không gì bằng nó, mê cũng nó mà ngộ cũng nó, không gì chẳng biểu hiện qua nó. Một vị Phật đầy đủ đức tướng Như Lai, một đấng phàm phu viên mãn vô lượng tâm chúng sinh. Có bao nhiêu tâm chúng sinh “Ta” đều biết hết và đưa vào vô dư niết bàn !” Không gì hơn là “Duy ngã độc tôn” cho nên kẻ mê người ngộ đều lấy cái tôi mà chứng đắc các pháp tính không duyên khởi và Tôi là vô sở đắc, vô sở đắc không ! Cái Tôi nó như tâm điểm của vòng tròn Vô Hạn Tụng Ca nó, sở đắc nó là điều bất khả, vô bất khả. Cái bản ngã là như thế mà cái không tự ngã cũng là như thế. Như thế là như thế bổn lai bất động Đạo Tràng, chơn vọng bất khả đắc !

l

Tâm thấy tâm, thấy biết là tâm, Tâm là “không” vậy. Biết Tâm thôi, không cho tâm là vọng hay chơn, và ngay biết đó chính là Tâm. Và hết thảy (muôn pháp chơn vọng, phàm thành …) đều là Tâm sống động, vô sở đắc, vô sở trụ … Vậy bạn làm sao nói gì nghĩ gì …nữa chăng, vì hết thảy là Tâm rồi thì nói nghĩ tu hay không tu … đều là nó cả ! Không nhất thể chẳng phiếm thần … ! Mà cũng là v.v… !

l

Sống thuận theo Pháp tính duyên khởi vô sanh là giới. Thấy nghe hay biết như thực cái – này – là cái – này – cái – kia – là – cái – kia – cái – này – có – nên – cái – kia – có – cái – này – không – nên – cái – kia – không – trùng – trùng – vô – tận – vô – thủy – vô – chung … là Tuệ. Lắng nghe không tính, không tính lắng nghe là Định. Thấu suốt ba phương pháp (tướng dụng) này là “không” (thể) thì gọi Giác Giải.

l

Chân lý rốt ráo không thể vào ra được. Không thể dùng phương tiện, vì không có điều kiện nào cả thì ngay đó trực ngộ vô sanh. Chỗ nào có phiền não chỗ đó có niết bàn, nơi hữu sự là vô sự chứ không có riêng chung. Như sóng nước, chẳng động chẳng không động, chẳng ràng buộc chẳng không ràng buộc, không thuộc thời gian không gian tâm thức nào vì viên dung vô ngại. Nó không phải bản thể hay hiện tượng, Nó chẳng tìm kiếm một cách thế nhìn hay xử sự tối ưu, tuyệt hảo, vì nó vốn viên mãn. Nó cũng chẳng biểu hiện, thực nghiệm, học hành để hoàn thành mục đích nào … vì nó không có đích đến, bởi nó chẳng đi đâu. Nó cũng chẳng bị lừa phỉnh bởi cái gì hay lừa phỉnh ai vì nó chân thực chẳng đổi. Nó chẳng phải có trăng nước hay không trăng nước, nó chẳng phải ồn náo của tâm thức, quan cảnh trong ngoài, cũng chẳng phải im lặng là đỉnh cao vì nó không có vực thẳm. Chỉ biết được bản tính của tâm là sinh động vô trụ xứ, vô trụ xứ sinh động cũng “không” thì mọi sự mọi vật đang giải thoát. Tu học là để nhận ra sự thực này. Sự thực đang – giải – thoát, mà giải thoát hay không giải thoát cũng bằng thừa, vì Thực tại thì không thuộc vào phạm trù, quan niệm, cảm thức … nhưng không ngại với tất cả pháp, vì tất cả pháp chẳng ràng buộc chẳng giải thoát Thực Tại (sự thực, chân lý). Như người đi tìm mình bỗng trực ngộ mình là đây là như vậy còn đi tìm mình nào. Mình là Tính không duyên khởi của vạn sự vạn vật cũng là không tính, Phật tính, pháp tính … v.v… Ngay đây không ngộ thì quá hiện vị lai đều không ngộ. Vì ngộ thì không tùy thuộc thời gian không gian tâm thức cảnh trạng nào, cũng không thực tác hay vô tác, nên luôn luôn ngộ luôn luôn giác giải mà chẳng biết Như Lai tùy duyên hiện tùy duyên khuất, chưa từng có Phật hay không có Phật ra đời, vì chúng sinh thấy biết không trọn vẹn (sinh tử niết bàn, sóng với nước …) nên tạm thời dong ruổi, thực sự dong ruổi, mê lầm cũng là tướng của tâm, ngoài tâm không có mê lầm, chấp tâm là hữu hay phi hữu cũng là mê lầm. Biết là được, không gì chẳng biết.

l

Giận (mừng) … nhưng không có người giận, như trời mưa nắng là do duyên chứ không có cái chi làm ra. Thực ra thì dù có người hay có cái chi đi nữa rốt ráo tìm “thủ phạm” (duyên, nhân, quả, nghiệp …) cũng chẳng thể được, ngay khi tìm chẳng thể được cũng chẳng thể được rồi thì có quá trình tiến trình hiện hữu hay không hiện hữu nữa chăng ? Tuy không thực có nhưng sự tương tục mưa nắng vẫn khởi lên liền diệt mất, diệt mất liền khởi lên, nên người ta không thể dẹp cái bóng được, chỉ thấy bóng là bóng, hình là hình thì có gì phải làm thêm làm bớt. Các pháp (tâm cảnh) cũng như vậy. Chẳng có gì, chẳng là gì … mà không chi chẳng đầy đủ, cho nên bạn cũng chẳng cần hỏi vì sao có thay vì sao không có gì hết. Vì đâu có gì đâu có. Do bạn nằm mộng hay muốn có muốn không nên hỏi vậy, thực sự chẳng có gì chẳng là gì tùy bạn có nên có tùy bạn không nên không, ngay cái “tùy” này còn chẳng có mà nay có thì rõ ràng có, không sẵn sàng rồi. Nói mớ cũng chẳng có, nên bạn đâu cần hỏi, vậy chứng tỏ bạn có rồi mới hỏi, mà khi xem kỹ thì cái có đó lại chẳng thực thì còn có cái gì ! Ngay cả hư vô, đoạn diệt còn chẳng có mà cái chẳng có lại chẳng có thì làm gì có cái có, có cái không ! Một sự vật, sự kiện hiện khởi hay không hiện khởi như ta thấy hay hiểu thực sự không phải chỉ có thế. Nó chỉ là góc độ, quên mất cái toàn thể. Như lửa thì chẳng liên hệ gì đến tâm của ta hay nước hay ngôn ngữ tư tưởng … Vậy mà cái này (riêng biệt) lại mời gọi cái kia mới hiện khởi hay không hiện khởi. Cái riêng biệt cũng là cái toàn thể, mà cái toàn thể cũng là cái riêng biệt, tùy duyên, tức cái tòn thể hay riêng biệt hoặc mời gọi móc nối đun đẩy … không tự tính. Như thế, Đạo hay Pháp đều là giả danh mà cũng là đệ nhất nghĩa, nơi danh tướng mà chẳng phải danh tướng vì chỉ có giả danh mà cũng là thực tướng của vạn pháp. Chính cái giới hạn làm cho ta xử sự trong mối quan hệ tùy thuộc mà cái toàn thể lại là cái giải thoát, hòa điệu, tịch diệt rốt ráo. Nó chẳng phải hai, vì chưa từng đối đãi bao giờ, cho nên chẳng có sự vượt qua hay không vượt qua nào cả ! Đạo không có đường vào, không có phương tiện chi cả, từ ngoài vào Đạo vẫn còn cái mê chưa ngộ, vì thực ra ngộ hay mê đều là do chấp thủ danh sắc mà có, tìm cho ra cái chấp thủ thì quả nhiên chẳng thể được. Hết thảy đang giải thoát, ngay đây chẳng giải thoát thì một tỷ kiếp nữa cũng chẳng giải thoát, do vì một tỷ kiếp nữa mới giải thoát là do vì luôn luôn giải thoát rồi mà tưởng ràng buộc đấy thôi, nếu không thực có niết bàn thì làm gì có để chứng niết bàn, mà hễ có niết bàn để chứng thì thời nào xứ nào cũng niết bàn. Cái ngộ thì thường trụ, phi thời phi xứ, còn cái mê lúc có lúc không như người say tỉnh. Tuyệt đối không có vấn đề gì, mà có vấn đề gì thì cũng là pháp, mà pháp tì tuyệt đối “không” tâm diệu dụng hằng sa vô tận vô chung vô thủy thì làm sao lại lấy bỏ thánh phàm được. Bờ này bờ kia là chỗ khai thị để chỉ cái không thể chỉ không thể làm không thể đắc không thể hữu không thể phi hữu không thể v.v… Thực sự không có pháp nào gọi là chơn vọng, động tịnh, có không … chúng chỉ huyễn hiện ánh sáng tự tâm không tính đó thôi không chi chẳng hoàn tất, thành tựu. Mà thành tựu của không bất không thì chẳng nằm nơi sở đắc nào !

l

Cái “tôi” thật tuyệt vời, không có nó thì không có gì cả. Mà không có gì cả lại là cái tôi, đố bạn là Phật hay ma tìm cho ra cái “tôi”, tôi sẽ theo làm đệ tử cho vui. Cái tôi chẳng thể nắm lấy bỏ lấy được, mà khi nắm lấy hay không nắm lấy cũng hàm ngụ có cái tôi nắm bỏ cái tôi rồi ! Nó chẳng có chẳng không trong từng sát na. Toàn thể pháp giới chỉ là một sát na tâm niệm, tìm một sát na không thấy thì tâm niệm vô sở đắc như cái tôi. Chỉ là không thủ trước nó thì bạn khẳng định tự kỷ bạn là cái gì ! Bạn cho nó có hay không hay thực hay hư hay cao siêu hay thấp hèn là tùy bạn, bạn cũng chẳng thoát được cái tôi tuyệt vời của bạn ! Nó là hết thảy pháp mà hết thảy pháp không thể là nó. Đó cũng là Tính không tùy duyên vậy ! Vô sở đắc = Tính Không = Tùy Duyên = Vô tâm = Bát nhã = Như thị = Bình thường tâm = Thanh tịnh tâm = Tịch diệt hiện tiền …

l

  • Phương tiện thiện xảo nên những lời dạy của Phật, Tổ tùy duyên tự tại không nên hiểu theo thời gian lịch sử mà theo sử lịch, diễn trình.
  • Niết bàn không thể nói, nhưng có thể chỉ con đường đến Niết bàn. Nhưng con đường đi đến Niết bàn là con đường của “hủy diệt” mọi con đường … Do đó không có con đường đến Niết bàn và Niết ban không phải là không thể nói mà là không có gì phải nói, ngay cả những cách thức xuất, nhập … Niết bàn dù là sai lầm, cũng không có gì đáng nói. Sự tịch lặng, (vô tâm) giản dị (tự nhiên vô tác), sáng tỏ (tính giác bản nhiên) như thế không có cái gì lừa phỉnh nó được, dù mê hay ngộ nó vẫn thế. Sự lầm lạc chỉ là lầm lạc của ! Niết bàn không của ai cũng chẳng là cái gì cả.
  • Hữu thể, Pháp, Đạo, Cái Đó … là gì ? – Không như thế này cũng như thế kia ! Nghĩa là ? – Nghĩa là không như thế này cũng như thế kia ! Vì sao có sinh ra có hiện tồn và có chết đi để rồi sau đó còn có cái gì, trước đó có cái gì ? – Không như thế này thì cũng như thế kia ! Có phải ông mới nói cuộc vận hành vô ngã vô thủy vô chung vô trụ vô tướng vô niệm … v.v… ? – Không như thế này thì cũng như thế kia ! Thế này cũng phải không như thế này cũng phải … v.v…? Phải phải phải.

l

Hỏi là triết lý, cội nguồn của triết học. Hỏi về hỏi là hỏi tại sao hỏi, thì chỉ là giỡn chơi chứ thực sự thì khi hỏi và hỏi thì đã biết hỏi tử đâu lại rồi. Đó là Đạo học, cội nguồn của những tu chứng. Hỏi về hỏi về hỏi là sự im lặng ồn ào của giòng sông vô bờ không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu.

  • Lầm nhận cái của tôi là Tôi, cứ như vậy mà xoay vòng không có đầu cuối. Vì không có đầu cuối nên khó thấy, như mớ cát đằng. Xem kỹ cái tôi thì cái tôi chẳng có, cái của tôi chỉ là quy ước, tạm thời cũng bất khả đắc. Thiền là sự khám phá sự thực bản nhiên của vạn pháp, nó không phá lập cái chi, chỉ là không còn lầm nhận (mê muội) là được, là chứng Niết Bàn.
  • Khi tâm chưa bị điều kiện hóa thì thấy nghe hay biết là tướng bồ đề, thảy thảy các pháp thanh tịnh.
  • Tựu trung chỉ là do ông chủ, biết ông chủ là duyên sinh vô ngã thì ông chủ giải thoát.
  • Nếu bạn thực sự hạnh phúc (vô điều kiện) thì bạn không còn cần cầu bất cứ cái gì nữa (điều kiện). Đây là chỗ “an ổn”, kẻ vô y, người vô nhiễm trong sinh tử lẫn niết bàn.
  • Nhìn thấy cấu trúc của tam nghiệp (duyên sinh vô ngã) thì bạn không phải cái này không phải cái kia mà là hết thảy pháp giới không, là bạn, không chấp tướng không phá tướng bạn siêu quá nhân quả, bạn là Phật không rời bỏ chúng sinh, chúng sinh chẳng lìa bạn. Đây là chỗ bí mật của toàn bộ Phật pháp, tục đế lẫn chân đế, thủy giác là viên giác, chỗ thành tựu của nhất thừa, chỗ tu chứng, hành đạo, chứng pháp của đạo sư chân chánh …

l

Hết thảy giáo lý, dù là của bất cứ giáo chủ nào (K – Phật – Chúa – Sa tăng v.v..) đều là tùy bệnh cho thuốc. (Văn Thù nói : “Khắp thế giới đều là thuốc” – bởi vì khắp thế giới đều là bệnh – thế giới = tâm giới). Do đó bệnh thuốc tương sinh, không cố định, phương tiện thiện xảo ba la mật không lìa tâm bệnh mà có. Nếu tâm không bệnh thì thuốc không thành. Vì không thấy “sự thực” (“Hãy đến mà thấy” – tức đến nơi Tâm để thấy) của tâm là vô tâm nên hết thảy bệnh phát sanh, ngay cái không bệnh cũng thành bệnh, ngay thuốc cũng tạo nên bệnh. Rõ ràng chư Phật ba đời chỉ “xem kỹ” Tâm là vật gì liền giác ngộ giải thoát và hằng sa diệu dụng nơi Tâm cũng phát khởi. Cái (bệnh) khi xưa ta từ bỏ vì đau khổ … bây giờ lại là Trân Bảo Niết bàn toàn hảo.

l

Thực tính của các pháp (tâm, thân, thế giới) là Duyên Khởi, mà cái gì do duyên khời thì không có thực tính nào cả. Thấy rõ điều này gọi là Phật tính, hay không tính mà cũng là Duyên khởi Tính không tự tính. Đó là chỗ bình đẳng của mọi sai biệt, mâu thuẫn …

l

Toàn thể pháp giới chỉ là Một Viên Ngọc Sắc Màu Viên Mãn.

l

Vô thủy vô minh vì không thấy cái chân mà chỉ theo cái vọng mà lập tri kiến. Biết cái vọng tìm cái chân, ngộ cái chân thì chơn vọng tự tại.

l

Cuộc vận hành của cái không hay tùy duyên. Tất cả Đạo lý chỉ có vậy. Cái như vậy đang là như vậy, không thêm bớt chi.

l

Tính Bản nhiên nó biết làm gì, nói gì, nghĩ gì, không gì nó chẳng biết không gì nó chẳng hiện. Tuy vậy tìm nó chẳng được, nắm nó chẳng xong, bỏ nó chẳng phải. Nó sinh mà vô sinh, nó không có tự tính như vạn pháp nhưng nó lại là cội nguồn “không nền tảng” của muôn pháp. Nó không làm gì cả mà không chi chẳng thành tựu, vì hết thảy đang thành tựu nên nó chẳng làm gì cả. Điều này cũng có nghĩa rằng nhất thiết pháp vô sở đắc, vô sở trụ, để lại mọi dấu vết mà không có dấu vết (phàm thành, tâm cảnh …) chi có thể được !

l

Với Tâm bản nhiên thanh tịnh biến chiếu, vạn pháp đều tịch diệt trong thể thái sinh động viên mãn của nó, cho nên chẳng thể lấy bỏ một pháp nào. Đó là sự siêu việt là sự vô tác, như thị chỗ đó, tuy vô số quan niệm, danh tướng vẫn chập chùng sinh diệt, chúng vẫn thực sự thanh tịnh bản nhiên.

l

Vì hướng ngoại tìm cầu nên vô thường vô ngã khổ … Một niệm vô tâm trực ngộ chân tính cũng là bổn giác thanh tịnh sáng suốt tùy duyên không tịch, chẳng gì chẳng phải tự tính niết bàn. Mọi sự sai biệt chẳng làm khổ ông, chỉ là ông làm khổ mọi sự đó thôi. Bởi ông không chịu “nhìn kỹ” vào tâm vào vạn sự vạn vật, ông chỉ nhỷ như khỉ vượn từ sự này sang sự khác, làm ông choáng váng, phiền não ảo hiện. Rồi thì từ cái phiền não này ông tìm cách trừ bỏ, thay thế, chuyển hóa, đồng nhất, thăng hoa … nó. Ông dựa dẫm vào đủ thứ phàm thánh để mong thoát khổ, nhưng nào được đâu, chỉ vài ba an lạc loáng thoáng, khi mất khi còn … Ông nỗ lực “giữ gìn” thánh hạnh, nỗ lực níu kéo chân lý, thờ phụng Thượng đế cao cả cùng các thứ đại loại siêu xuất như vậy, rồi thì sao nữa ? Bao nhiêu hứa hẹn, hăm dọa từ a tăng kỳ kiếp khác … Dù gì đi nữa thì ông cũng đang giải thoát, ông không cần đi tìm giải thoát, càng tìm càng bị lừa gạt bởi mình bởi người. Ông chỉ “nhìn kỹ” cái gọi là khổ, vui, chơn, vọng, thô, tế … ông sẽ khám phá cái chưa từng phàm thánh và mọi sự mở toang cho ông thấy “chẳng là gì cả” ngoại trừ một đại dương ánh sáng sống động linh hoạt (Như lai trí huệ) vô sở bất tại, vô sở đắc … cũng là tự thân tự thể ông đó. Nó chẳng phải ngã chẳng phải vô ngã … chẳng phải cũng chẳng phải cũng chẳng phải … Đây là chỗ reo vui của “Bản Ngã”, như sóng nước, như gió trong tàng cây, như chim ríu rít, như những vụ nổ vũ trụ, như tìm tâm chẳng thấy, như sự tìm tâm cũng chẳng được, như vẻ đẹp não nùng, kiêu sa, hoang dại, đìu hiu, lạc long, lầm lũi, lêu lổng, ma mị, giang hồ, dằn mặt, cuồng loạn, mất mát, quê mùa, cục mịch, vô duyên, cô lieu, bại hoại, dâm đãng, phờ phạc, si dại, cong cớn, đồ sộ, câm lặng, nhàn nhã, lướt thướt, thần sầu, thánh thoát, trinh nguyên, u sầu, ngổ ngáo, thờ ơ, quý phái, vương giả, phong nhiêu, kỳ vĩ, sững sờ, hiền thục, xa vắng, thâm hậu, bệnh hoạn, bình dị, sơ khai, xỏa lộng, hốt hoảng, thơ ngây, kinh dị, u mật, cợt nhã, mỏng manh, nóng bỏng, lâm ly, không lời, khiêu khích, thích thản, thông tuệ, lạnh lùng, máy móc, dềnh dàng, man mác, khinh mạn, tủn mủn, tỉ tê, lê thê, luộm thuộm, uể oải, trầm luân, thuần nhiên, thiên thượng, đoan trang … v.v… Để được tự tại tự như đang là thế đó, ba đời chư Phật chỉ dạy ông một việc là trở lại chính mình sáng tỏ bổn tâm ! Không có việc khác.

l

Mỗi mỗi đầy đủ, mọi mọi chẳng thêm bớt. Nếu có thiếu dư thì chính sự thiếu dư này cũng viên mãn. Thấy thiếu dư đó tức chẳng thiếu dư, nó là pháp hữu vi vô thường vô ngã. Thấy chẳng thêm bớt đó tức chẳng thêm bớt vì là không, vô vi, vô tác vậy. Hữu vô đều không tự tánh tùy duyên mà khởi nên vô khởi. Vô khởi mà tùy duyên nên sinh sinh bất diệt. Cho nên người không nhận cái ngã của mình là lỗi, không nhận cái vô ngã của mình là lầm. Người thấy ngã và vô ngã bất nhị, nên siêu việt mọi sự mọi vật. Người ấy tụng ca cái vô tận vô lượng nơi cái hữu hạn, sát na vĩnh cửu. Người ấy không thấy gì khác ngoài nhất chân pháp giới sống động, linh hoạt vô sở đắc, vô ngại tự tại dù hiện hữu hay vô hữu trong bất cứ vũ trụ nào.

l

Không gì ngoài Tâm bạn, đó cũng là tự kỷ của bạn và tôi và tất cả các pháp. Tâm chỉ là danh từ chỉ chỏ một cái không thể thấy nghe hay biết được, tuy vậy hễ thấy như thế nào thì nó là như thế, biết thế nào thì nó là như thế … Nó là sinh tử, niết bàn, vô minh, bổn giác, cũng là Duyên Khởi, cũng là Tánh Không, cũng là cái có điều kiện làm phát sanh vui khổ, cũng là cái vô điều kiện vô sinh vô nhiễm vô tướng … Vô sở đắc thì đắc được nó, đắc được nó nên vô sở đắc. Cho nên giải thoát, ràng buộc không lìa nó cũng chẳng phải là nó. Nó không cần tìm vì lúc nào nơi nào cũng “có” nó, cũng chẳng cần học hành tu luyện, vì nó không sanh diệt cũng chẳng không sanh diệt … Nó bất khả đắc, vô sở dụng, sống động linh hoạt khó lường, nên lường được thì nó thuộc “ thời gian” rồi. Nhưng thời gian không thực có như hết thảy pháp cũng không thực có, không thực có “tánh” chi. Ngộ tánh vô thực vô hư, tâm thể tự nhiên như thị, thời, phi thời, chơn vọng, như huyễn như hóa vô trụ vô tích…

l

Chơn vọng giống như mặt trăng và người ngắm trăng. Hễ người đi thì trăng đi mà thực trăng chẳng đi đâu hết. Vòng sinh tử như đốm lửa (nhất niệm) chuyển động (nghiệp thành) thành vòng lửa (sum la vạn tượng sinh khởi tùy duyên vốn thực vô sanh, vô diệt. Nhân quả nghiệp báo cũng lại như vậy). Niệm này sang niệm khác, kiếp này sang kiếp khác như bánh xe tiếp giáp với con đường chỉ là nhất điểm dù vô tận vô lượng. Ngã mà vô ngã, sinh mà vô sinh … Thấu suốt điều này gọi là Trí Huệ vô sinh, siêu việt nhân quả.

Tất cả pháp vô ngã (“không”) thì tà ma ngoại giáo thế gian xuất thế gian Phật đạo đều vô ngã. Vậy thì vũ trụ thân tâm, pháp giới chỉ là một ánh sáng (giác tính) mà thôi. Nơi giác tính không có cao hạ, trước sau, bình đẳng sai biệt, thánh phàm mê ngộ cũng “không”, tùy duyên hiện tướng (hữu vô) chẳn mất chẳng còn, chẳng thêm chẳng bớt … Hết thảy là Thanh tịnh bổn nhiên chẳng làm sao hay không làm sao mà được, bởi vì “vốn vậy”, như thị, trung đạo, bất nhị … rồi ! Trung Đạo, Bất nhị không phải là “hợp nhất” chủ khách, chơn vọng … mà bởi vì chủ khách … đều không tự tính, cũng tức là giác tính, không tính vậy. Do đó, không có vấn đề sáng thế, đầu tiên hay cuối cùng ngay cả vô thủy vô chung cũng chỉ là khai thị, chẳng dính dáng đến tính bổn nhiên như thị. Vô minh phiền não cũng không tính như bồ đề niết bàn. Cho nên có những câu hỏi sai lầm được đặt ra chỉ vì không giác ngộ giác tính không tính mà “in tuồng” trời đất xa cách, huyễn mộng (bóng trong gương).

l

Chân như – A lại da – Nghiệp cảm duyên khởi không phải là ba mà tự tính không tính Duyên khởi đầy đủ như thế nơi mỗi mỗi chúng sinh. Chỉ vì vận dụng có một phần hay phần hay ba phần mà không thấy vô nhị vô nhị phần đó thôi.

l

Đã nói “Duyên” thì không ai tạo, cũng chửng phải ngẫu nhiên tình cờ, cũng chẳng phải định mệnh sắp đặt như thế. Duyên tức là “không” vậy.

l

Người ta hỏi có “cái gì đó” hơn là Trí óc đang điều động cuộc sống ? Có linh hồn không ? Có Thượng đế không ? Có cái Thiêng Liêng không ? v.v… Tôi bảo rằng không có cái gì cả, ngay cả Trí óc. Đạo lý Tùy Duyên khó lắm ư ?! Sao người ta không chịu “hiểu”. Ngay cả lời trách móc này cũng không thoát khỏi chính nó, Không tính ! Vì không tính nên hết thảy đầy đủ, ngay cả vô minh, lầm lạc … Pháp giới tính như thị chưa từng thêm bớt, chưa từng thay đổi. Nhỡ phân chia thành sai khác có chủ khách, có tri cùng vô tri … nên mới có “trở về” với Đạo. Kỳ thực đó cũng là ảo tưởng vì cái mê si trước !

l

Tương hợp với quan niệm của người khác dù bất cứ ai, ở cấp độ nào hay không cấp độ nào cả thì cũng chưa chắc là mình đã chứng ngộ chân lý cứu cánh. Chân lý cứu cánh thì vượt ra ngoài những chỗ đứng hay không chỗ đứng, nó tùy nghi thi thiết mọi tương quan bất khả đắc huyễn hiện pháp giới như nhất tâm sống động vô sanh vô diệt.

l

Sinh lão bịnh tử là vô thường, vô thường là sinh lão bịnh tử, trước khi sinh là vô thường, sau khi tử là vô thường, cái vô thường vì vô ngã (không tự sinh tha sinh cộng sinh …). Vô thủy vô chung này nếu ai ngộ được sẽ chứng cái thường lạc ngã tịnh của Niết bàn bất nhị. Nó vẫn luôn “có đó” dù chứng ngộ nó hay không. Thấy được liền xong việc. Đạo giản dị vậy ư !?

l

Cần tham thấu cái sinh diệt tức tạo tác của thân tâm, của duyên sinh để thấy rõ sự thực này và thâm ngộ cái bất sinh bất diệt, vô điều kiện, niết bàn, Tuệ giác, giải thoát. Đạo lý đơn giản chỉ có vậy, vô thủy vô chung, sinh diệt không sinh, không sinh chẳng phải không sinh, nên bất nhị, Trung Đạo, Tánh không. Đâu cần tu chứng hay vô tu chứng. Nếu tu thì là pháp sinh diệt, cái không sinh thì làm sao tu, cho nên nói Đạo giác ngộ, vô tác, diệu viên …

l

Hết thảy đều “không thực có” vì do duyên nên vô thường vô ngã vậy. Cái chấp thủ, cái mê lầm cái ngã cái pháp … đều là không thực có, vì duyên khởi như vậy nên nó cùng là chơn, cũng là vọng, tùy duyên tự tại như chân không diệu hữu. (Khái niệm về thực tại được chỉ bày, hãy nương vào mặt trăng thứ hai mà “ngộ” mặt trăng thực, chẳng lấy chẳng bỏ vọng, chẳng bỏ cái biệt mà riêng nhận cái tổng v.v…). Chính vì thấu suốt vạn pháp không thực có, không nền tảng, tùy duyên, như huyễn mà hết thảy phàm thánh đều giải thoát.

l

Cái không tướng thì không thuộc về đoạn hay thường, nên nói nó thế nào cũng phải mà cũng chẳng phải. Như nhục nhãn, huệ nhãn, Phật nhãn … đều có chỗ của nó, có cái riêng biệt có cái trùm khắp … nhưng hết thảy không lìa tâm không tướng mà được.

l

Vì ta kiếm ngã mà chẳng được nên ta tụng ca nó. Ta tìm kiếm cái nền tảng, cái đầu tiên của sự sống không được này mà chẳng được nên ta tụng ca nó. Ta không sợ có ngã hay không có ngã, ta không thấy có pháp hay không có pháp nên ta tụng ca nó.

l

Chớ đi đường cũ, cũng chẳng cần xách dép tổ sư, chỉ nghe một lời gợi ý của phàm thánh, … tự mình khám phá sự thực xưa nay. Rồi thì không nói có Đạo hay không có Đạo, không lìa Đạo hay mất Đạo, mỗi lời nói là sự bay lượn của con rồng, khi ẩn khi hiện, ngôn ngữ chẳng những là lời nói mà tất cả sắc tướng đều là ngôn ngữ tuyệt vời.

l

Vạn sự (vạn pháp) như ý là thế nào ? Đó chẳng phải là do cầu mong mà được, nếu cầu mong, làm sao để được thì chỉ là tạm thời. Vạn sự như ý thì sinh cũng như ý, tử cũng như ý, già cũng như ý, bệnh cũng như ý v.v… Đấy là chỗ nhân quả chẳng làm gì được ông ! Thực ra thì vạn pháp vốn hoàn hảo, chỉ vì ông trông cậy vào những phiến diện nên nó có vẻ méo mó bất toàn. Tuy vậy cũng là pháp đó thôi, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng thêm vào bớt ra chi cả. Nơi Tính Duyên Khởi (Bổn giác không tính tịch diệt) không có sinh diệt, chẳng không sinh diệt, chẳng uế tịnh, chẳng không uế tịnh, chẳng có ngã để trừ, chẳng có vô ngã để được, chẳng có mình để biết, chẳng có cái biết để biết mình … Tự tại vô ngại là thể tính của chân lý, chân như ! Cho nên hết thảy giáo lý của bậc giác ngộ đều là phương tiện chỉ bày cái này để nhận ra cái kia, thực sự chẳng chứng chẳng đắc, chẳng học chẳng vô học, chẳng có gì phải khai thị. Niệm niệm vô tâm rõ ràng chưa từng che giấu, lấy gì còn, mất ! … Toàn thể pháp giới chỉ là một quang minh hải !

l

Ngộ thì lúc nào cũng ngộ, trùm khắp mọi nơi, do đó khi ngộ thì không gì chẳng “tham gia” vào cái ngộ này ! Bạn không còn là một nửa, hay một phần của cái Toàn Diện, Toàn Thể mà là Toàn Thể, Toàn Diện. Bạn yêu một chiếc lá một niềm đau cùng tất cả những gì bạn thấy biết hay không thấy biết, bạn là Tình nhân của vũ trụ và vũ trụ yêu thương bạn như người yêu, bạn không còn khổ đau, tội lỗi nữa. Bạn tự do như chim trời cá nước, ngay cả những buồn đau cũng mang dáng vẻ tuyệt vời, cái đẹp của tình yêu của đời sống thì muôn vàn không kể xiết, chỉ vì bạn đánh mất Tình yêu trong danh sắc hữu hạn bởi những tham lam trong hờn giận của riêng mình. Bạn mở tung lồng cũi của mê lầm thì Tình yêu như bầu trời trước mặt. Bạn biết cách mở cửa chứ ? Thấu hiểu cấu trúc của vạn sự (Duyên khởi không tính).

l

Biết cùng không biết đều là vô minh cả. Làm cùng chẳng làm đều là khái niệm, giả danh …

l

Duyên khởi điệp trùng như sóng nổi.

Tịch nhiên hằng chuyển nghĩa vô sanh.

l

Bạn chẳng thể nắm cái gì mà bạn cũng chẳng thể buông cái gì cả. Bạn luôn luôn là “không” và những gì bạn muốn nắm hay buông cũng là “không” và không là Duyên Khởi không thực có cũng chẳng phải không thực có. Hết thảy Tịch Diệt vô thủy vô chung. Nếu bạn có vấn đề gì hay không có vấn đề nào cả, bạn vẫn thế, Tịch Diệt Bổn Nhiên. Như thế này hay không như thế này cũng phải, không thế này thì cũng như thế kia, đều phải. Một cái “phải” này trùm khắp Tính không giới, mọi nhân quả mộng tưởng điên đảo đều trôi nổi trong nó như viên ngọc như ý vô sắc nhiều màu …

l

Vì các pháp (vô vi, hữu vi …) là bất khả đắc nên không trể tri kiến, nói hay không nói, biết hay không biết về nó được. Nhưng khi thấy như thế thì đã khai mở hiển thị trọn vẹn về nó rồi. Sao nói rằng các pháp bất khả đắc ? Vì Tâm vô sở trụ vậy. Tâm vô trụ nên tất cả các pháp là duyên khởi không tánh, nhân quả vô ngã, nói một cách rốt ráo thì không gì chẳng phải chân tánh. Do vậy, hết thảy đều giải thoát, không đợi làm hay chẳng làm, không đợi duyên hay phi duyên … Vì vô điều kiện tuyệt đối đó. Từ “căn để” này mà bậc giác ngộ tùy thời diễn nói sự sai biệt nơi mọi giáo nghĩa để người ngu thuận tùy chân nghĩa giác ngộ chân lý.

l

Có một cái Tôi Như Huyễn Mầu Nhiệm ! Tôi ca tụng cái tôi này. Nhưng nếu hết thảy là như huyễn (vì không ngoài cái Tôi như huyễn !) thì ai là người biết như huyễn !? Trong (nơi) tính bổn giác không có sinh lão bịnh tử, không có niết bàn, không có biết cùng chẳng biết ! v.v… Nhưng bảo rằng nó “độc lập” với tất cả pháp như huyễn, duyên khởi thì là lầm rồi ! Chính cái lầm này là cần thiết để có chỗ cho mê và ngộ, cho danh tướng hay phi tướng … Cho nên, tính phi chân lại là chân như, mà tính chân như lại là huyễn tính. Huyễn và phi huyễn như sóng nước, vô nhị, vô nhị phần làm sao nói, làm sao không nói v.v… !

l

Toàn thể văn minh văn hóa nhân loại là tâm thức bị giới hạn bởi những danh tướng, thấy được như thế thì cũng thấy những “cảnh giới” khác cũng bị quy định bởi những “khu vực” của nó. Riêng chỉ Trung Đạo đệ nhất nghĩa, bất nhị, dung nhiếp mọi cái mọi con, cũng là Pháp giới tính duyên khởi bất khả tư bất khả thuyết vậy. Đây cũng là “cảnh giới toàn chân” không thể thấy, không thể chứng, không thể đắc, bởi vì nó là nó rồi !

l

Cái giận cái tham cái vui cái buồn cái được mất… thế này hay thế khác không có chi là “khổ” hết, nó vốn tròn trịa khắp thời khắp nơi không có vấn đề chi, trừ khi nó tự ngắm nhìn lại. Và kinh nghiệm là chỗ bắt đầu của phiền não, khói mây ! Chỉ biết “pháp” vốn vậy thì những khổ đau lại là cam lồ, diệu dược …

l

Vì phương tiện thiện xảo mà lập nên chơn vọng, tổng biệt, thành hoại … Tất cả chỉ là thuốc bịnh trị nhau. Thực chứng tâm này là giả danh thì niết bàn sinh tử không còn chỗ đắc thất, không một pháp có thể được, nhưng chớ cho không một pháp có thể được là phải !

l

Chân lý cứu cánh (hay tương đối) thì không tự tính nên nó “sẵn sàng” phi chân. Cái phi chân lý cũng không tự tánh nên cùng cái chân lý bình đẳng.

Ranh giới mê và ngộ không thực có, vì chính mê ngộ cũng là giả danh, nó chỉ chỏ cái chưa từng mê chưa từng ngộ. Nó không là chủ không là khách. Mà chủ khách tương giao vô ngã như giòng sông không có hai bờ đối diện.

l

Tôi thích lạy Phật thì tôi lạy Phật, tôi không thích thì thôi, không động cơ nào cả. Thích thản, hân hỷ …không thuộc tự cao, khiêm tốn …

l

Theo ông nói thì cái tam độc cùng với không tham sân si và giải thoát cả hai đều như nhau phải không ? – Phải, ông có thấy chúng hiện hữu dù một sát na nào không ? – Dù chúng không hiện hữu nhưng chúng vẫn “có” đấy chứ ? – Chúng có là có với cái gì ? – Phải chăng là ảo giác vọng tưởng …? – Ngay cả ảo giác vọng tưởng cũng chẳng hiện hữu, thì những pháp khác cũng thế phải không ? Khách im lặng.

l

Cái như vậy thì đang là như vậy, cái không như vậy thì cũng đang là không như vậy … Có gì ! Có gì !

l

Điều tôi muốn nói trước khi chết. Đó là vạn pháp vốn Hoàn Hảo, Viên Mãn, Tuyệt Đối siêu quá mọi thêm bớt, lấy bỏ … Mà dù có thêm vào (niết bàn) bớt ra (sinh tử vô minh) như rắn vẽ thêm chân, như lông rùa sừng thỏ … chẳng chi không Diệu, không Tối Tôn Tối Thắng ! Cho nên việc hóa độ chúng sinh và sự thành tựu giải thoát dù vô tận lượng cũng chỉ là một Thoáng Đùa Vui Như Huyễn Tính Tự Tâm Tịch Diệt.

l

Bạn có thể kiến giải về một cục đá được không? Chắc là không rồi ! Quan niệm về cục đá chẳng phải là cục đá, nên không thể quan niệm về cục đá được. Một cục đá còn chẳng quan niệm được thì một phàm phu, một vị Phật làm sao lại có thể, phải không ? Vì quan niệm là của loài người, phải biết người ta quan niệm, lập thuyết về một cái gì đó là từ sự thấy nghe hay biết của người ta rồi tạo lập thành hệ thống nhiêu khê tuyệt đẹp mà nếu kẹt vào thì khó thoát ra. Chỉ cần biết nó là trò chơi của tâm thức nên không thực có thì bước ra dễ dàn. Trí huệ Như Lai không chi chẳng “biết” và cái “biết” như thực này thấu thoát hết thảy, nên chư Phật ba đời đùa vui với tri kiến tam muội vì lợi lạc chúng sinh.

l

Người thích lý thuyết, kẻ ưa thực hành; Thực hành hay lý thuyết là nhất niệm nghiệp thành ! Đâu bằng vô sự !

l

Không có gì hết, không là gì hết trừ thế giới khái niệm náo loạn bạn. Như con kén cái tằm, trò vui lại cột trói bạn, muốn thoát ra đâu dễ. Cái mê lầm cứ tiếp tục quanh quẩn, ngón tay lại cho là mặt trăng. Hết chạy theo phàm lại chạy theo thánh, toàn là bánh vẽ ! Bạn để tâm bạn “ở đó” của nó, không trụ bên trong cũng chẳng chấp bên ngoài, tự nhiên bạn có năng lực tự tại tự phát.

l

Tâm chưa từng hiện, pháp chưa từng sinh. Thế mà lại có tâm có pháp, không thiếu thốn chi. Cái vô thủy vô chung làm sao quan niệm được ? Tuy chẳng quan niệm được dòng sống vô biên vô trụ, nhưng chẳng không khi nào lại rời xa hay kết nối với nó. Chưa từng gặp gỡ đâu nói chia ly ! Bởi vì cái duy nhất thì còn nói gì hai hay một …

l

Tâm bổn nhiên vì chẳng “tự hữu” nên cùng vạn pháp không khác. Nó vốn như như lại càng động tịnh, do đó tự đối tượng hóa, bị điều kiện hóa, tạo lập danh tướng khắp tam giới không thể mô tả. Tuy vậy, chỉ là “cái đó” thôi mà ! Thiên đường địa ngục … là chỗ hý hước của cái “chân không diệu hữu”, bạn còn cầu gì, không cầu gì !?

l

Có, không của phàm phu khác có không của Thanh văn Duyên giác khác có không của Bồ tát khác có không của chư Phật. Tại sao ? Vì phân biệt vậy ! Tại sao có phân biệt ? Vì vui vậy ! Vì “tâm” là nền tảng của mọi cái có và không …, và cái nền tảng này lại vô tự tánh, vô sinh tính … nên cái có và cái không … đầy đủ mà không bao giờ chướng ngại nhau. Nói hết thảy có, như vật, phi vật … hoặc siêu quá chúng … đều có ! Nói không hết thảy, thì sinh tử niết bàn vô minh bản giác vũ trụ phàm thánh … đều không. Có và không là những phạm trù linh hoạt, như tính, vô phương sở nên dung thông hết thảy, những vị giác ngộ thấu suốt có không nên tự tại trong phương tiện thiện xảo, trò đùa ngôn ngữ quá đã ! Do đó “Đường ngôn ngữ dứt, tâm hành diệt” hoặc ngược lại đều như thỏ giỡn trăng. Ngay cả nói Tâm là nền tảng thì cũng hàm ngụ “có” rồi, mà “có” được gọi tên thì cái “không” cũng xưng tánh rồi. Dù là siêu thể, vật thể, hay bất cứ dạng loại nào đã sinh đang sinh sẽ sinh đều bao hàm nơi cái “có” và “không” này. Chẳng phải có chẳng phải không hoặc lìa khỏi chúng cũng từ cái có và cái không được dựng lập tập hợp hay không dựng lập tập hợp mà thành muôn pháp danh tướng. Sự im lặng của sự im lặng từ sự thấu hiểu trọn vẹn điều đó mà không thể hay có thể (!) khẳng định hay phủ định điều gì !

l

Đạo không phải cái gì mà phàm phu ngu si nói nghĩ làm hay tưởng tượng. Đạo cũng chẳng phải là những gì các bậc Thánh mô tả, chỉ bày … Nói vậy mà chẳng phải vậy, chẳng phải vậy mà như vậy, như vậy mà chẳng như vậy, không như vậy cũng chẳng không như vậy … chẳng có “con đường” nào cả !

l

Niết bàn là gì ! – Là Tự do với vô minh sinh tử phiền não ! – Tạm thôi – Là Tự Do với giác ngộ và giải thoát – Cũng tạm – Là sinh tử không niết bàn không – v.v…

l

Nói siêu việt nhân quả cũng có nghĩa là vô trụ trước vào các pháp đang vận hành vô ngã không có sau không có trước không có khoảng giữa, chúng hoàn toàn không có khoảng cách thời gian không gian, nó có vẻ đồng hiện không có tiến trình, không có tự ngã riêng chung vậy. Hết thảy đều biểu tỏ nghiệp quả một cách thong dong, viên dung, vô ngại, không phải nỗ lực hay không nỗ lực (phi tự nhiên, phi nhân duyên). Biết các pháp sinh diệt hay không sinh diệt là bất khả đắc nhưng cho rằng bất khả đắc cũng là lầm ! Cho nên y theo ngón tay mà hành đạo, không khỏi ba chìm bảy nổi … ! Lìa ngón tay thì là mặt trăng rồi, nhưng mặt trưng cũng không bao giờ có thực ! Vậy thì chìm đắm lại trong huyễn vọng tăm tối hay sao !?

l

Khi người ta thực sự rớt vào hư không thì người ta tự biết cái diệu hữu là gì ! Còn chưa “rớt” thì chẳng biết, nên tưởng tượng vô cùng ! Vì thực sự không có chi “rớt” (ngộ nhập) cả ! Vì đã là hư không vô tận tạng rồi ! Lạ lùng thay trong Tính chân không lại là Diệu hữu !!! Cho nên thân khẩu ý (tam mật) đầy đủ, tùy duyên tự tại, không kẹt trong niệm hay vô niệm, mà kẹt thì cũng tốt vì không đâu chẳng là nhà mình.

l

Mọi sự vận hành uyển chuyển không đợi biết hay chẳng biết ! (Bây giờ người ta theo đuôi ông này ông nọ chủ trương cái “không biết” là chỗ an trú, giời ạ !), làm hay chẳng làm, nghĩ hay chẳng nghĩ ! Tùy thuận bổn tính vô sinh mà khởi dụng thì nơi sinh mà vô sinh, vô sinh mà sinh vượt ngoài kiến, phi kiến … Do đó, nếu thấu suốt tâm bị điều kiện hóa nên vô thường huyễn hóa, thì ngay đó Tâm vô điều kiện (thường trụ) là nhất chân pháp giới bất khả tư nghì, mười phương tịnh độ (tâm vô nhiễm trước) hiện bày trong nhất niệm vô tâm hiện tiền. Mọi ngôn ngữ danh tướng cùng bổn tính không tính không hai, cũng là Trung Đạo ! Nên xem kỹ ! Nếu hết thảy các pháp duyên sinh vô thường vô ngã khổ không thì làm gì cũng chỉ là vô thường phải không ? Chẳng phải ! Đi đứng nằm ngồi là vô thường nên chỉ là đi đứng nằm ngồi đâu nói làm hay chẳng làm nên ngay đó vô thường chẳng ràng buộc được ! Các sự khác cũng lại như thế ! Chẳng rơi vào thường, đoạn … Khi động chỉ là động chẳng thêm động, khi tịnh chỉ là tịnh chẳng cần làm cho tịnh, động tịnh là “không”, không thực có tướng, không thực không tướng … Phải thấy bản tâm tuy diệu mà không, tuy không mà diệu, những cách thế biểu hiện thì vô lượng nhưng kỳ thực chỉ là Trung Đạo bất nhị của duyên khởi không tính và giả danh. Nếu cho tu là được Đạo hay không tu là được Đạo thì biên kiến, tà kiến, ngã kiến, si kiến … Vì Đạo chưa từng mất cũng chưa từng còn bất cứ nơi đâu hay bất cứ ai.

l

Có tai mắt mũi lưỡi thân ý mới có sắc thanh hương vị xúc pháp mới có cái biết của tai mắt mũi lưỡi thân ý ! Tai mắt mũi lưỡi thân ý nếu chẳng không thì chẳng có cái biết của tai mắt mũi lưỡi thân ý. Cái biết của tai mắt mũi lưỡi thân ý chẳng không thì chẳng biết tai mắt mũi lưỡi thân ý cho đến sắc thanh hương vị xúc pháp …

l

Nói làm nghĩ thì người này khác người kia khác cho đến chính người đó cũng khác với người đó, chúng hữu tình đều là một biển sóng thức chập chùng sai sai biệt biệt … Chỉ có “cái đó”, tức cái Tánh Biết thì chẳng biết gì (chẳng là gì) mà chẳng gì chẳng biết (chẳng gì chẳng là), thì chúng sinh và chứ Phật đều như. Sóng nhỏ to xấu tốt động tịnh … muôn nghìn mà nước chỉ là sóng nước thôi !

Bạn biết vì sao tâm niệm của bạn khởi diệt liên tục không ? Đó là do duyên của sáu căn sáu trần sáu thức vậy. Nó gặp thì nó hiện khởi rồi để gặp cái khác nó phải diệt rồi mới khởi nữa, như vậy nó thực sự là rổng rang, dù nó có thâm căn cố đế trong bản năng tập khí dục vọng thô tế như thế nào để kích động nó sinh diệt thì nó vẫn rổng rang thông suốt. Nói thì đơn giản như thế nhưng rất phức tạp trong đường lối biểu hiện của nó. Tất cả pháp hữu vi vô vi đều như thế, nó chẳng bao giờ ngưng dứt. Hỗn độn một cách trật tự, một cách không sai sót. Đó cũng là mạng lưới tư tưởng (trời) tuy thưa mà chẳng lọt (nhân duyên). Cho nên muốn tự do với cái lưới trời lồng lộng này chỉ là “xem kỹ” thì quả nhiên “tâm bất khả đắc”, dù nó có trắng đen mù trời nó vẫn không ô nhiễm bao giờ. Bạn chẳng lấy, bỏ, bôi lem hay trang hoàng nó được, vì làm thế thì cũng là nó rồi !

Bạn là những sở hữu sở đắc, và những sở hữu sở đắc này chẳng phải “của” bạn. Không cái gì là của ai cả, vì “ai” chỉ là một từ để chỉ bạn hay tôi … như bàn ghế người vật chẳng hạn. Nó chỉ có giá trị theo quy ước. Bất cứ gì cao siêu hay không đều như vậy, tùy thuộc bạn có chấp nhận chúng hay không, ngay cả cái gọi định luật, nguyên lý tạm thời hay phổ quát. Chân lý thì không thể “xác định” nên không thể nói tương đối hay tuyệt đối. Hết thảy là giả danh, và bạn cùng tất cả hữu tình đều sống chết trong vũ trụ giả danh đó. Thực tướng của vạn pháp không thể chỉ ra được, hoặc nói nó là vọng, là chơn, là “Duyên Khởi”, là “Không”, là “Hữu”, Bản giác, vô danh, vô tướng, vô đắc, vô sanh … đều là giả danh cả. Biết rõ điều này, tâm thức bạn tự nhiên rổng rang thấu suốt, không còn thấy có ngã, có vô ngã, có chạy ra ngoài tìm cầu, trở về trong để an trú, hay đứng “ở giữa” để khỏi kẹt hai bên hoặc không đứng ở đâu cả (vô trụ xứ) … đều là “bản ngã mê vọng” sâu kín bày đặt ra để tự lao nhọc chơi cho vui vậy, chẳng có chút “chân lý” nào cả ! Khi bạn thấy rằng không có chân lý, chân phúc, chân như … nào để đạt tới, thì đó là “Bạn” đich thực tùy duyên tự tại!

l

Tất cả giáo lý chân thật là để đưa bạn trở về với Tính Bổn Nguyên của bạn, cũng là của vạn sự vạn vật, nó không chỗ nương, không chỗ trụ, không có điều kiện để sinh hay chẳng sinh … Nếu bạn chấp vào vị thần hay Phật hay bất cứ pháp nào bạn đều tự lừa gạt và bị người lừa. Bạn sẽ hy vọng một ngày nào đó bạn sẽ “xong việc” v.v… Một Đạo sư thứ thiệt nói cho bạn rằng bạn là “cái như vậy” đó thì bạn chẳng tin hoặc mù mịt … Cái “vô sư” thì học hành gì !

l

Cái mà bạn muốn từ bỏ có lẽ đó là những tập khí mà bạn cho rằng xấu xa, chướng ngại …? Và bạn làm quen với những thứ khác dễ chịu hơn, tuyệt vời hơn ? Thực sự bạn chẳng lấy bỏ gì được hết. Tất cả đều bình đẳng trong Tính chân như và sai biệt trong Tính Như Huyễn. Nhưng chúng lại là “không”. “Không” cũng là chân như cũng là Như Huyễn ! Và đó cũng là Giả Danh, như bất cứ hiện thể nào. Ở loài người “giả danh” được dựng lập bằng những quy ước và loài người bị quy định bởi những quy ước đó nên họ lúng túng tưởng mình bị ràng buộc trong cái gì, khó thoát, trừ khi họ “nhớ lại” những trò chơi quy ước mà họ đã tạo ra ! Cuốn từ điển cùng những quy tắc, định nghĩa, nguyên lý là cần thiết cho một trò chơi nhưng nó không là gì cả đối với những trò chơi khác, như vậy chúng chẳng cần phải chấp thủ, và cũng không cần phải hỏi làm sao để đừng chấp thủ, vì thực sự nó cũng là sự bám lấy một khái niệm, giả danh. Bản tính của trò chơi là như thế ! Ngôn ngữ, tư tưởng của loài người vẫn có đó, ngay cả phi tư tưởng, vô ngôn thuyết cũng không ngoài “giả danh”. Biết được điều đó, bạn “siêu việt” chúng mà chưa hề “vượt quá” !

l

Bản ngã mà ông nói đó là cái tôi phải không ? – Không ! Cái chẳng phải tôi ? – Không ! – Là Thượng đế Tối thượng ? – Không ! – Là Đời Sống là Thiên Đường là Niết Bàn ? – Không ! Là cái Như Nhất ? – Không ! Là cái Toàn Thể ? – Không ! Là cái Tự Tánh, Chân như, Phật, Như Huyễn … ? – Không ! – Vậy nó là cái gì ? – Không là cái gì cả. Mà không gì chẳng đủ, ngay cả sự thiếu thốn, nó là bạn, là tôi là vạn vật hữu tình vô tình trong từng kẽ tóc chân tơ … Tìm nó chẳng được, tạo tác nó chẳng nên, buông xuôi theo nó cũng chẳng thành v.v…

l

Có trường phái chấp vào nhân duyên sinh, có trường phái chấp vào giả danh, có trường phái chấp vào Trung Đạo, đó có lẽ vì sự mê làm còn sót lại từ cái thấy có “bản thể” mà ra ! Người chân chánh ở trong tứ cú, ở trong tất cả tâm, tất cả cảnh nhưng vẫn vô sở đắc cũng vô đắc nên Tự Do Tự Tại ngay từ “đầu, cuối”.

l

Bạn biết vì sao có danh tướng (ngôn ngữ khái niệm về sự vật) chứ ? Đó là nhân duyên của sáu căn sáu trần sáu thức chìu níu móc nối nhau. Nó không thực sự có cũng chẳng thực sự không, nó chẳng vọng mà cũng chẳng chân. Nó hiện hữu không tính vậy. Rồi thì quan niệm (thấy và nghĩ) kết dệt thành. Từ cái nhân duyên hữu hạn nên mọi quan niệm tri thức kiến giải đều giới hạn biết cái biết giới hạn đó, cứ như thế cho “đến” vô thủy vô chung vô tận vô lượng … bạn tự do với chúng, bạn không bỏ vọng tìm chơn, bạn không làm gì nữa. Bạn cũng ngộ ra rằng dù bạn thấy vũ trụ hay không thấy với những phiền não hay niết bàn … bạn chứng được hay không, tất cả chúng đều “phát hiện”, “vọt ra” nơi Bản giác, cái Biết nền tảng (phi thời, phi hữu, …). Cái Biết này bao trùm dung nhiếp vô ngại tự tại trong tất cả, không dư không thiếu. Bạn làm bất cứ gì, dù tu luyện để đạt những cảnh giới tối cao chí thượng hay lôi thôi luộm thuộm rơi vào tầng bậc cuối cùng (mà thực ra không có phương hướng, vì vốn phi thời không) bạn vẫn luôn luôn giải thoát. Vì Bản giác cũng như vạn pháp chưa từng ràng buộc bao giờ. Nên nói, lên xuống ra vào nơi tam giới “cái đó” đang đùa vui xí xọn bằng nước mắt nụ cười thực là tuyệt đẹp một cách xấu xí, và nơi đây bạn thực chứng cái từ bi trí huệ của ba đời chư Phật là không hư vọng ! Bạn luôn luôn tại hiện vô thủy vô chung. Xưa nay pháp giới chưa từng thay đổi cũng chưa từng tăng giảm cái chi chi hết thảy. Đây là chỗ siêu việt niết bàn và sinh tử, của kẻ vô sự, vô tu vô chứng … Những quan niệm cục bộ, địa hạt (cảnh giới) là do kẻ ngu mà tạm có. Chúng sinh là Phật, Duyên Khởi là Tánh Không. Bạn có thể là vị Bồ Tát đồ sộ, một ma vương phong nhiêu, tùy bạn muốn chơi trò gì cũng viên mãn ! (Trích từ Tụng ca Bản ngã, chương Sư Tử Hống thời phương thảo lục).

l

Bạn biết vì sao có oan gia trái chủ cùng các thứ nhân duyên thuận nghịch không ? Là vì tâm của bạn lúc nào cũng chọn lựa phải trái, sướng khổ mà hễ có cái này thì cái kia xuất hiện. Bạn làm sao hóa giải nó nếu tâm bạn còn chạy rông ra ngoài tìm thương ghét kết bè ? Chỉ là bạn “để” tâm bạn ở chỗ của nó, bổn nhiên thanh tịnh sáng suốt tùy duyên thuận nghịch mà chẳng có tâm nghịch thuận như gió trong hư không thì bạn mang cả núi Tu Di (ngã tính) cũng vào Đạo được. Cho nên Bồ tát chẳng có bạn thân thâm hậu với Bồ tát mà là thâm hậu thiết thân với ma quỷ vô minh để chi ? Chơi vậy ! (chẳng phải hóa độ chi cả, chơi riết thì ma vương cũng thành Bồ tát, bởi vì ma vương thèm khát kết bè kết phái để đối phó với kẻ thù do khát ai phóng chiếu ra ! Ma vương thành Bồ tát rồi thì không còn Bồ tát nữa, chỉ “còn là” (cà lòn) một Pháp tính quang minh biến chiếu như xưa nay vẫn thế. Chỉ là lượm chơi vụn vặt chia phân nên quên mất pháp tính đùa vui vô tận vô lượng ! Tuy là quên nhưng cũng là nó đấy thôi !

l

Cái gì có điều kiện thì có này có nọ, nếu vô điều kiện thì có cái gì, hư vô đoạn diệt trống không chăng, hay là Niết Bàn từng ngọn cỏ lá cây, thiên tài quốc sắc trong từng bé em bé chị kiều diễm xí xọn ! Bạn biết ngộ và mê cũng giống như chết và sống không ? Chẳng ai sống giùm bạn, cũng chẳng ai chết giùm bạn, bạn phải sống và chết mà không ai “dạy” bạn hay “cho” bạn được. Ngộ, mê cũng vậy. Nó vẫn hiện diện trong khoảnh khắc đến nỗi chết là sống mà sống là chết. Mê và ngộ bất nhị vì khi ngộ ra rồi người ta mới thấy rằng chư Phật cùng chúng sinh chưa từng đối lập, đập lộn vậy ! Còn rất nhiều điều để nói với nhau nhưng người viết lười lĩnh và đôi khi chán nản (chơi cũng chán huống hồ không chơi) nên im lặng làm vui ! “Tâm tình một nẻo quê chung, Đường về cố quận muôn trùng ta đi”.

l

Bản Ngã là Một Đại Dương Sóng Nước Linh Hoạt Sống Động là Bản Tâm của Vạn Pháp, không tính sinh không tính diệt không tính Phật không tính ma không tính ta bà không tính Tịnh độ, cũng là Tịnh độ, Ta bà, chúng sinh và chư Phật ! Bản Tụng ca đến đây tạm dừng, vì không có đầu không có cuối, chỉ toàn chơi khúc giữa (tại hiện) nên cũng tròn đủ vô thủy vô chung.

l

Thử khảo sát về cái biết và không biết : Khi bảo rằng tôi biết vật đó, người kia, cảnh nọ, tâm thái này … cho đến tôi biết Đạo, chân lý, pháp môn … cũng có nghĩa là tôi đã kinh nghiệm qua bằng thấy nghe hay biết (6 căn) của tôi, do đó tôi bảo rằng tôi biết (chưa nói chuyện biết đúng sai chánh tà ở đây). Còn cái mà tôi chưa từng thấy, nghe, chạm, ngửi, nếm, nhận thức, phân biệt, hiểu được thì tôi bảo rằng tôi không biết. Trước khi biết cũng không biết “xảy ra” như trên thì tôi hoàn toàn “không là gì cả” hay tôi không “để tâm” tới, hoàn toàn không có vấn đề, hay mù mịt không biết trước khi “xảy ra” cái biết cùng không biết này nọ là cái gì, nên tạm đặt cho nó cái tên “vô thủy vô minh” hoặc cái bổn giác, cái Thiêng liêng cái chúa tể vạn sự vật hay chi chi cũng được ! Nếu là “vô tri vô giác” thì không thể “chạm vật”, liền biết cùng không biết thông qua 6 căn đầy đủ được. Chuyện 6 căn duyên với 6 trần sinh ra 6 thức tánh nó là không, là chuyện xảy ra để biết hay không biết thì khá đơn giản nhưng thực sự phức tạp, nên gọi là “lưới trời Đế Thích”. Đó là chuyện “xảy ra” rồi. Nói hình tượng một chút, “điện” (bất khả tri) là gì thì không ai biết được nhưng có thể làm cho nó phát hiện thì liền dùng được mọi chuyện nên đặt tên chung nó là điện (cái biết, khả tri). Làm cho nó phát hiện được thì gọi là biết điện, còn không làm được mà chỉ dùng thôi thì cũng biết một phần nhưng không thể biết hết cấu trúc của điện cùng năng lực của nó, nên gọi là không biết. Bây giờ thử hỏi những người làm cho điện phát hiện để dùng thì họ cũng chẳng biết điện là gì chỉ thấy rằng thiết lập những điều kiện này nọ kết nối với nhau thì điện phát sanh. Vậy thì ngoài cái việc duyên sinh ra điện thì điện có thực thể nào đó không, để cho khi kết nối thì nó phát hiện, tức là có cái “tiềm ẩn” bí mật nào đó trước khi duyên sinh ra điện ? Như trước đã có nói về giả thiết này, trước khi cái biết cùng không biết khi “chạm vật” xảy ra thì là cái gì ? Tùy theo câu hỏi này mà đặt tên cái Thiêng liêng, cái vô minh, hay cái bổn giác hay cái mù mịt hỗn độn nhà ma hay cái Trật Tự Muôn Thuở Muôn Nơi mà hễ đầy đủ cơ duyên thì cái đó phát hiện. Nếu cái trước đó là vô tri vô giác thì làm sao mà khi đủ điều kiện thì nó biết cùng không biết, tướng này tướng nọ, tức hễ có biết (chủ) thì có cái bị biết (khách), tương quan liên hệ chằng chịt mà khởi diệt … Hoặc nếu trước đó là hư vô, lông rùa sừng thỏ thì làm sao có thể tác dụng duyên sinh thành tướng biết cùng chẳng biết ? Đây là chỗ tìm kiếm cuối cùng khi mà tất cả chủ khách đã “ổn định” xong, tức “cái gì” làm nên chủ khách !

Đây là chỗ dành cho những bậc giác ngộ chẳng dành cho những người tưởng tượng v.v… Để mà tìm kiếm cho ra cái căn nguyên này thì vô số triết gia, đạo sư … bày ra không biết bao nhiêu là phương tiện, phương pháp. Thử hỏi những dạng loại này có thể nào khám phá được “cái kia” chăng ? Trong khi đó có cái dạng loại là phủ định tất cả mọi pháp môn, thì cũng là một pháp môn để trực ngộ “cái kia”. Nhưng “cái kia” là gì thì không ai nói ra được, nhưng không nói ra được thì chưa đủ giác ngộ, thực chứng. Thành ra, người ta đi đến tận cùng cái hữu hạn người ta thấy cái “hữu hạn” là cái “vô cùng” mà cái vô cùng thì … “xảy ra” rồi ! Vì phủ nhận cái khởi nguyên nên có cái vô thủy, nhưng cái vô thủy này không phải là thời gian (đầu cuối) vô tận, nó là cái Đang Là.

l

Ngay Tâm còn chẳng hiện, nói gì đến Pháp.

l

Trong mê lầm sinh đủ thứ kiến giải, thực sự cò gì !

l

Sinh tử chẳng khởi chẳng diệt, Niết bàn chẳng sinh chẳng tử. Như sóng nước chưa từng thay đổi. Vì không thực chứng điều này, nên gọi là vô minh vô thủy phiền nhiễu. Không cần chuyển dẹp vô minh phiền nhiễu, vì không cần, chuyển dẹp, và vô minh, phiền nhiễu, hết thảy chúng là sóng nước đó thôi (niệm). Sóng không làm nước xao động (Tâm), xao động sao được vì sóng chính là nước sống động. Nước cũng chẳng ngại sóng mênh mang. Đại Dương (Pháp Tánh) không gì chẳng đủ (xưa nay Hoàn Hảo), cội nguồn của Tam thân, tứ trí (kho báu nhà mình). Vì vô minh nên có “vấn đề”, mà vấn đề thì có khi không chính xác khi đặt ra. Và giải quyết vấn đề cũng là giai đoạn, góc độ, tạm thời.

l

Có quan niệm cho rằng vì “gió vô minh” nên làm nước dậy sóng. Cùng các thứ như thế đều là từ cái thấy nhị nguyên, nhị thừa … làm nền tảng cho nhiều ton giáo, triết học … Do đó phát sinh nhiều pháp môn tùy thuộc vào tông chỉ của mỗi giáo lý. Tất cả những điều này chỉ là kiến giải phân ly giữa sóng nước. Bệnh nên cần thuốc. Bệnh hết thuốc trừ, lại là cái gì !? “Trước khi cha mẹ sinh” đâu khác với “cha mẹ sinh” ! “Ai là niệm Phật ?”. Người niệm Phật là Phật chứ còn ai nữa ! Thể tướng dụng bất nhị ! “Chết rồi đi về đâu ?”. Chưa từng sinh, làm gì có chỗ để đến ! Sống chết là những quan niệm, chủ thuyết mà quan niệm thì tùy cách nhìn v.v… do Duyên đâu thực !

l

Không có vô minh, không có sinh tử … thì làm sao nói vì vô minh nên đủ thứ chuyện trên đời ? – Tìm vô minh có gốc ngọn chăng ? Sinh tử niết bàn cũng lại như vậy, chẳng có nền tảng, tiêu chuẩn nào cả. Vì vô sở đắc đó. Cho nên nói chánh đẳng chánh giác là cái thấy biết chân lý của Phật, người chứng chân lý, tất cả pháp vô thủy vô chung vận hành vô ngã vô trí vô đắc. Đó là cái ngộ siêu quá đúng sai, chánh tà. Duyên Khởi Tính Không quét sạch mọi sự để mọi sự là vô nhất vậy ! Hay nói cho đúng hơn (không qua phương tiện) Tính Duyên Khởi là vô nhất vật, là Trung Đạo Đệ Nhất nghĩa đế. Sáu căn sáu trần, ngũ uẩn v.v… đều bất khả đắc, chẳng có vết tích tướng mạo gì trong thực tính không tính của chúng. Đó là Thể Cứu cánh, cũng là cái Dụng Tùy duyên, cũng là cái Tướng vô sanh vô trụ của Bát nhã vậy !

TỪ AN

Các bạn muốn đọc thêm những tác phẩm khác của tác giả Từ An (Tụng ca đời sống, Cho trọn vẹn hôm nay, Về những ẩn ngữ, Pháp trụ pháp vị, Tịch diệt hiện tiền, Bên ngoài cái vô hạn ), xin để lại địa chỉ email tôi sẽ gửi sách đến.

Trong khi đọc sách có những gì chưa rõ hoặc muốn đàm đạo cùng tác giả, bạn có thể liên lạc với anh Từ An theo số điện thoại sau: 0815934607

Comments(2)
  1. phi phuong 22 February 2019
    • BS HUỲNH HẢI 22 February 2019

Viết bình luận

Your email address will not be published. Required fields are marked *